Bức tranh ảm đạm của thị trường việc làm tại Mỹ

10:42 | 09/12/2020

Theo một báo cáo khảo sát mới đây của Dow Jones, số thất nghiệp vẫn đang duy trì ở mức 440 nghìn người, tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp cũng đã giảm xuống một chút, đạt ở mức 6,7% từ 6,9% trong tháng 10.

Biên chế phi nông nghiệp chỉ tăng 245 nghìn lao động trong tháng 11, thấp hơn nhiều so với ước tính của Phố Wall do các ca nhiễm coronavirus gia tăng đồng thời với sự chậm lại đáng kể trong việc tuyển dụng. Theo một báo cáo khảo sát mới đây của Dow Jones, số thất nghiệp vẫn đang duy trì ở mức 440 nghìn người, tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp cũng đã giảm xuống một chút, đạt ở mức 6,7% từ 6,9% trong tháng 10.

buc tranh am dam cua thi truong viec lam tai my
Ảnh minh họa

Mức tăng tháng 11 thể hiện sự chậm lại rõ rệt so với 610 nghìn vị trí được thêm vào tháng 10. Tổng cộng, nền kinh tế đã mang lại 12,3 triệu trong số 22 triệu việc làm bị mất trong hai tháng đầu tiên của cuộc khủng hoảng. Vẫn có khoảng 10,7 triệu người Mỹ được coi là thất nghiệp, so với 5,8 triệu vào tháng Hai. Tổng số người mất việc vĩnh viễn vẫn ở mức 3,7 triệu.

Theo ông Daniel Zhao, chuyên gia kinh tế cấp cao tại trang web giới thiệu việc làm Glassdoor, với tốc độ tăng thêm vào tháng 11, nền kinh tế Mỹ sẽ không trở lại mức việc làm trước đại dịch cho đến năm 2024. Báo cáo của ngày hôm nay là một lời cảnh cáo chắc chắn rằng nước Mỹ vẫn chưa thoát khỏi khó khăn ngay cả khi có vắc xin. Đại dịch đã khiến hàng triệu người Mỹ mất việc làm ngay từ giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng. Tổng số này cho thấy mức tăng trưởng việc làm chậm nhất khi số lượng công nhân thất nghiệp trong ít nhất 25 tuần tăng 11% lên gần 4 triệu.

Nhìn chung, đó là một báo cáo đáng thất vọng, các chuyên gia kinh tế tại Jefferies cho biết thêm trong một bài phân tích gần đây. Với nhiều trường hợp mắc Covid-19 đang tăng trở lại cùng với việc các vắc xin mới đang ở chế độ thử nghiệm cũng làm cho tình trạng tuyển dụng bị chậm lại. Ngoài ra, sự sẵn sàng quay trở lại làm việc của công nhân cũng là một yếu tố hạn chế đáng kể, với nhiều người không thể đi làm do lo lắng về Covid-19 hoặc họ vẫn phải nặng gánh với nghĩa vụ chăm sóc gia đình.

Dịch vụ chuyên nghiệp và kinh doanh tăng thêm 60 nghìn việc làm và chăm sóc sức khỏe tăng 46 nghìn việc làm. Ngành khách sạn bị tàn phá, vốn chịu ảnh hưởng nặng nề nhất về số việc làm trong thời kỳ đại dịch, chỉ tăng 31 nghìn việc làm, trong khi ngành bán lẻ mất 35 nghìn việc làm, điều này cho thấy một dấu hiệu ảm đạm cho mùa mua sắm nghỉ lễ sắp tới.

Các cửa hàng siêu thị tổng hợp giảm 21 nghìn việc làm, trong khi các cửa hàng bán đồ thể thao, sở thích, sách và âm nhạc cũng giảm 12 nghìn việc làm. Các cửa hàng điện tử và thiết bị giảm 11 nghìn việc làm trong khi các cửa hàng y tế và chăm sóc cá nhân giảm 8.000 việc làm.

Nhìn chung, ngành hàng bán lẻ giảm 550 nghìn việc làm so với trước khi các hạn chế trong đại dịch có hiệu lực. Điểm sáng là Ngành xây dựng và chế tạo có thêm 27 nghìn việc làm trong tháng và hoạt động tài chính tăng thêm 15 nghìn việc làm.

Các con số trên được đưa ra trong bối cảnh số ca nhiễm coronavirus mới tăng đột biến, đe dọa đẩy hệ thống chăm sóc sức khỏe của Hoa Kỳ đến bờ vực. Hơn 100 nghìn người đang phải nhập viện trên khắp nước Mỹ do sự bùng phát nhanh chóng, trong đó có hơn 210 nghìn trường hợp mới mắc vào thứ Năm vừa qua.

Mặc dù Hoa Kỳ đang trải qua quý tăng trưởng nhanh nhất từ đầu năm đến nay, nhưng các chuyên gia kinh tế vẫn lo ngại rằng trong một hoặc hai quý tiếp theo, nước Mỹ vẫn chỉ có thể đạt được mức tăng trưởng bằng phẳng hoặc thậm chí âm trước khi có khả năng phục hồi mạnh mẽ vào cuối năm 2021.

Thái Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.670 22.870 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.648 22.868 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.910 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.100
Vàng SJC 5c
56.450
57.120
Vàng nhẫn 9999
50.300
51.200
Vàng nữ trang 9999
49.900
50.900