Chi phí ở mức hấp dẫn, bất động sản công nghiệp hút nhà đầu tư Mỹ và Nhật Bản

13:58 | 25/06/2020

Nguồn cầu trong thị trường bất động sản công nghiệp luôn ở mức cao kể từ cuối năm 2019 và đang trở nên sôi động trong thời điểm hiện tại với sự tham gia của các nhà đầu tư trong khu vực và quốc tế.

Việt Nam được đánh giá là sự lựa chọn lý tưởng so với các quốc gia khác trong khu vực nhờ chi phí ở mức hấp dẫn, cùng với sự phát triển của cơ sở hạ tầng và các chính sách hỗ trợ đến từ Chính phủ.

Tính đến hết năm 2019, Việt Nam có khoảng 326 khu công nghiệp, khu chế xuất được thành lập, với tỉ lệ lấp đầy đạt 70% - 80%. Thị trường trong nước cũng chứng kiến nguồn cầu gia tăng do các tập đoàn đa quốc gia có kế hoạch mở rộng hoạt động kinh doanh ra bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc và chọn Việt Nam là điểm đến thay thế. Nguồn cầu này tăng đặc biệt khi có đại dịch Covid-19 xuất hiện và Trung Quốc là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng.

chi phi o muc hap dan bat dong san cong nghiep hut nha dau tu my va nhat ban

Năm 2020, thị trường bất động sản công nghiệp được đánh giá là phân khúc có nhiều lợi thế khi nền kinh tế phát triển ổn định, Việt Nam tham gia vào các Hiệp định thương mại, và sự xuất hiện liên tục của các chính sách hỗ trợ như miễn giảm, ưu đãi thuế của Chính phủ đối với các nhà đầu tư.

Mới đây, trong khuôn khổ Diễn đàn Bất động sản Công nghiệp Việt Nam 2020 (Hà Nội), nhận định về sự phát triển của thị trường, ông Matthew Powell, Giám đốc Savill Hà Nội cho biết: “Có thể nói, nguồn cầu về bất động sản công nghiệp vẫn luôn có, nhưng dịch Covid-19 và việc kiểm soát dịch bệnh thành công của Việt Nam là lực kéo quan trọng để thu hút nhiều hơn nguồn vốn ngoại vào Việt Nam đồng thời thúc đẩy nhà đầu tư chuyển hướng mạnh vào thị trường trong nước”.

“Các nhà đầu tư trong khu vực đang rất muốn gia nhập vào thị trường bất động sản công nghiệp tại Việt Nam. Chúng tôi đang làm việc với một số nhà đầu tư đến từ châu Á - Thái Bình Dương, Úc, Anh và Mỹ. Savills đang liên tục mở rộng danh mục khách hàng Việt Nam và quỹ đất. Sự xuất hiện của nhiều nhà đầu tư khu vực và quốc tế đã khẳng định tốc độ phát triển mạnh mẽ của thị trường Việt Nam không chỉ tại lĩnh vực bất động sản công nghiệp, mà ở trong các những lĩnh vực khác có liên quan”, ông Matthew Powell nhấn mạnh.

Nhu cầu của nhà đầu tư trong thị trường bất động sản công nghiệp Việt Nam đang phụ thuộc phần lớn vào cấu trúc và ngân sách của từng doanh nghiệp. Việt Nam đang chứng kiến nguồn cầu bứt tốc ở chuỗi giá trị; theo đó cũng dẫn đến những yêu cầu đòi hỏi hơn với công nghệ cao và chất lượng sản phẩm. Cũng có không ít nhà đầu tư coi trọng kết nối giữa bất động sản công nghiệp đến các cảng chính và trình độ cơ sở hạ tầng tại địa phương.

Đáng chú ý, lực lượng lao động có chất lượng với chi phí hợp lý là yếu tố rất cần được tính đến. Theo ông Powell, khoảng mười năm trước, ngành may mặc hiện diện phần lớn ở khu vực miền Bắc Việt Nam, nhưng hiện nay lĩnh vực này lại tập trung nhiều ở miền Trung vì thị trường may mặc công nghiệp hiện đang phát triển bứt tốc tại khu vực này.

Việt Nam là một lựa chọn hợp lý nhất so với các quốc gia khác trong khu vực. Chi phí đang ở mức rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, cùng với sự thuận tiện của cơ sở hạ tầng và sự hỗ trợ lý tưởng đến từ Chính phủ.

Cùng quan điểm này, ông John Campbell, Trưởng bộ phận Bất động sản Công nghiệp Savills Việt Nam cho biết: “Có không ít các công ty Mỹ và Nhật Bản dần rời khỏi thị trường Trung Quốc, và Việt Nam được cho là lựa chọn hàng đầu thay thế cho sự chuyển đổi này”.

“Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng Việt Nam là sự lựa chọn hợp lý và rõ ràng nhất ở khu vực Đông Nam Á. Song, có một số yếu tố trong lĩnh vực công nghiệp cần được nâng cấp và cải thiện, như cơ sở hạ tầng, hậu cần, giá đất. Giá đất cũng đã và đang tăng nhanh trong vài năm qua do nhiều quốc gia quyết định chuyển hướng vào thị trường Việt Nam. Đang có không ít các chủ đầu tư nỗ lực chuyển đổi đất nông nghiệp sang sử dụng cho công nghiệp, giúp tăng quỹ đất hiện tại và nguồn cung thứ cấp nói chung. Chúng ta có thể kỳ vọng vào các nguồn cung mới đến từ các vùng trọng điểm ở miền Bắc như Bắc Ninh, và ở miền Nam như Bình Dương và Đồng Nai”, ông John Campbell chia sẻ.

Việt Nam được đánh giá cao nhờ sở hữu những nền tảng tốt cho thị trường bất động sản công nghiệp, vì vậy một trong những việc cần thiết ở thời điểm hiện tại là thúc đẩy quảng bá về đất nước và tăng tính khác biệt của thị trường trong nước so với nước ngoài.

Việt Nam cũng đang sở hữu một khung pháp lý hoàn thiện và các dự án bất động sản có chất lượng tốt, đây chính là lý do để nguồn cầu liên tục tăng mạnh trong khoảng thời gian vừa qua và thị trường bất động sản công nghiệp hứa hẹn còn tăng trưởng khởi sắc trong thời gian tới.

Hải Yến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.079 23.269 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.074 23..284 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.070 23.270 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
58.600
59.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
58.600
59.850
Vàng SJC 5c
58.600
59.870
Vàng nhẫn 9999
55.150
56.350
Vàng nữ trang 9999
54.750
56.050