Chia sẻ gánh nặng chi phí cho ngân hàng

07:00 | 13/04/2020

Theo quan điểm của TS. Võ Trí Thành - Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, trong tinh thần chung, tất các cả bộ, ngành đều phải nỗ lực chia sẻ thì đề xuất giảm phí cho các dịch vụ tài chính, ngân hàng là hoàn toàn phù hợp.

Huy động tổng lực để nền kinh tế bật dậy sau dịch
Ngành Ngân hàng cam kết đồng hành, hỗ trợ nền kinh tế

Cước phí dịch vụ ngân hàng đang bị đội giá cao

Tại Công văn gửi tới Bộ Thông tin và Truyền thông, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TTg của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19, ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều chính sách và giải pháp cụ thể hỗ trợ cho các đối tượng, DN bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, trong đó có các chương trình miễn, giảm phí giao dịch thanh toán điện tử nhằm hỗ trợ trực tiếp cho người sử dụng.

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế như TS. Võ Trí Thành, ngân hàng là một trong những ngành không chỉ sớm đưa ra quyết sách mà các giải pháp triển khai trong thực tế khá nhanh và bước đầu nhận được phản ứng tích cực của thị trường như cơ cấu nợ, giảm lãi suất cho vay và chính sách giảm phí.

Việc giảm cước nhắn tin sẽ giảm bớt áp lực tài chính cho ngân hàng

Đơn cử như chính sách miễn, giảm phí, đến nay đã có 44/45 ngân hàng thực hiện miễn, giảm phí thanh toán cho khách hàng, chiếm 99,7% thị phần đã miễn giảm phí; nhiều loại phí được giảm từ 75-100% mức phí cũ. Thông tin về tình hình giảm phí cho khách hàng, Tổng giám đốc OCB Nguyễn Đình Tùng cho biết, hiện các mức phí giao dịch thanh toán điện tử của ngân hàng đều đưa về 0 đồng.

Tuy nhiên, các TCTD cho biết, việc giảm phí của họ đang gặp phải trở ngại do chi phí dịch vụ tin nhắn viễn thông dành cho các ngân hàng đang cao hơn nhiều lần so với những tin nhắn thông thường. Cụ thể, MobiFone và VinaPhone đang áp dụng mức 820 đồng/tin nhắn giao dịch tài chính, 500 đồng/tin nhắn quảng cáo chăm sóc khách hàng. Tương tự, Viettel là 500 đồng/tin nhắn (không phân biệt loại tin nhắn) và từ năm 2019, Viettel đã nâng mức giá cước lên 785 đồng đối với tin nhắn giao dịch tài chính. Vietnammobile, Beeline áp dụng 280-400 đồng/tin nhắn giao dịch tài chính, 500 đồng/tin nhắn quảng cáo chăm sóc khách hàng.

Trường hợp sử dụng đầu số thuê bao cung cấp dịch vụ tin nhắn - SMS Branding của đơn vị trung gian, các ngân hàng đều phải chịu mức cước là 800 đồng/tin nhắn và tuỳ theo phân khúc, khối lượng tin nhắn phát sinh mà các ngân hàng được chiết khấu với mức khác nhau. Nhưng sau khi trừ chiết khấu, mức giá cước trung bình vẫn khoảng 720 đồng/tin nhắn.

Trong khi đó tin nhắn giữa các cá nhân đơn lẻ chỉ ở mức 250 - 300 đồng/tin nhắn. Có nghĩa mức giá cước tin nhắn mà các DN viễn thông đang áp dụng đối với các ngân hàng cao gấp gần 3 lần so với tin nhắn thông thường.

Giảm áp lực tài chính cho ngân hàng

Mặc dù hiện nay, ngoài tin nhắn SMS ngân hàng cũng đang có một số kênh khác để tương tác thông tin tới khách hàng với chi phí thấp như tin nhắn thông báo trên ứng dụng, tạo ứng dụng tự sinh OTP... Tuy nhiên, tin nhắn SMS vẫn là phương thức thông báo được đa số các ngân hàng, khách hàng lựa chọn, đặc biệt là tin nhắn SMS-Brandname với nhận diện riêng của ngân hàng, để tránh kẻ gian giả mạo, lừa đảo khách hàng. Việc duy trì, sử dụng tin nhắn SMS cho thấy là một nhu cầu thiết yếu để đảm bảo an toàn cho khách hàng và bản thân ngân hàng chứ không nhằm mục đích kinh doanh. Do vậy, các công ty viễn thông thu mức phí cao gấp nhiều lần so với mức thông dụng là chưa hợp lý.

Trong khi đó, hiện hầu hết các ngân hàng đã áp dụng miễn, giảm phí giao dịch thanh toán cho khách hàng, nên với mức cước như trên, các ngân hàng đều phải bù lỗ khi chi trả phí dịch vụ tin nhắn viễn thông. “Điều này tạo ra áp lực rất lớn cho các ngân hàng trong việc thực hiện chính sách giảm phí dịch vụ thanh toán và mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt theo chủ trương của Đảng và Nhà nước”, Công văn của Hiệp hội Ngân hàng nhấn mạnh.

Trước thực tế trên, để đồng hành, chia sẻ, giảm bớt gánh nặng chi phí cho ngân hàng khi thực hiện chính sách miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho nền kinh tế, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các DN viễn thông xem xét giảm mức giá cước tin nhắn xuống tương đương với mức giá cước tin nhắn thông thường (áp dụng cho dịch vụ nhắn tin giữa các cá nhân đơn lẻ) hoặc ít nhất giảm 50% mức giá cước tin nhắn hiện đang áp dụng với các ngân hàng.

Đứng trên giác độ các ngân hàng, Tổng giám đốc OCB Nguyễn Đình Tùng cũng kiến nghị, nếu được giảm phí cước dịch vụ viễn thông, ngân hàng giảm áp lực tài chính vì phí thanh toán điện tử ngân hàng liên quan chặt chẽ đến cước phí thanh toán viễn thông. Việc giảm phí cước cũng sẽ giúp ngân hàng có thể có thêm nguồn lực tài chính để tính toán giảm lãi suất cho vay cho khách hàng.

Theo quan điểm của TS. Võ Trí Thành - Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, trong tinh thần chung, tất các cả bộ, ngành đều phải nỗ lực chia sẻ thì đề xuất giảm phí cho các dịch vụ tài chính, ngân hàng là hoàn toàn phù hợp. “Mức giảm bao nhiêu các nhà mạng tính toán hài hoà hợp lý nhưng vì cái chung cố gắng càng giảm được nhiều càng tốt. Thời gian áp dụng ưu đãi giảm phí nên là 5 tháng, hoặc đến khi hết dịch trên toàn cầu và có thể là đến hết năm. Quan trọng là thời gian thực hiện hỗ trợ càng sớm càng tốt để ý nghĩa của chính sách sớm được lan toả, mang lại hiệu quả cao”, TS. Võ Trí Thành đưa ra quan điểm.

Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, tại thời điểm này việc giảm phí cước tin nhắn là rất cần thiết. Vì số lượng tin nhắn giao dịch qua các công ty viễn thông tại ngân hàng là rất lớn. Nếu giảm được 50% là tốt nhất, còn nếu tốt hơn nữa có thể giảm bằng cước phí tin nhắn cho các cá nhân. Điều đó không chỉ tốt đối với ngân hàng mà thể hiện sự chung tay đóng góp cùng nền kinh tế sớm vượt qua đại dịch này. Đặc biệt nên kéo dài đến hết năm 2020. Bởi giả sử đến hết quý II dịch bệnh này được kiểm soát, thì hệ thống ngân hàng cần ít nhất 6 tháng để củng cố ổn định lại hoạt động, gia tăng khả năng sinh lời. Vì vậy, việc giảm phí ít nhất đến cuối năm. “Tác động của dịch bệnh thay đổi từng ngày, thậm chí dự báo kịch bản xấu từ tác động dịch bệnh là cuộc khủng hoảng vô tiền khoáng hậu. Với đề xuất hợp lý như vậy thì càng phải sớm triển khai. Trong bối cảnh này mỗi thành phần kinh tế đều phải có sự chung tay góp sức giảm gánh nặng cho toàn xã hội”, TS. Hiếu nhấn mạnh.

Hà Thành

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250