Chính sách tiền tệ ứng biến ngày càng linh hoạt

14:04 | 11/11/2022

Chính sách tiền tệ được điều hành trong mối quan hệ phối hợp hài hoà với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác

chinh sach tien te ung bien ngay cang linh hoat Chính sách tiền tệ trước áp lực vòng xoáy lạm phát, tỷ giá
chinh sach tien te ung bien ngay cang linh hoat Chính sách tiền tệ góp phần làm nên “tăng trưởng cao, lạm phát thấp”
chinh sach tien te ung bien ngay cang linh hoat Điều hành chính sách tiền tệ: Linh hoạt để hóa giải áp lực

Phản ứng chính sách kịp thời

Thị trường thế giới bất định, NHNN kịp thời đưa ra quyết định thay đổi quan trọng trong điều hành chính sách như, điều chỉnh nới biên độ tỷ giá từ +/-3% lên +/-5% kể từ ngày 17/10; hai lần tăng lãi suất điều hành (ngày 23/9; 25/10)… Phản ứng chính sách trên của NHNN được giới chuyên môn đánh giá tích cực, linh hoạt, phù hợp, bám sát xu thế chung của NHTW các nước trên thế giới cũng như diễn biến trong nước.

Chẳng hạn với việc điều chỉnh biên độ tỷ giá, TS. Võ Trí Thành - Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia nhận định, đó là hành động kịp thời của NHNN nhằm giúp tỷ giá ổn định một cách tương đối trong so sánh với biến động tỷ giá của nhiều quốc gia khác, cũng như trong bối cảnh Fed và nhiều quốc gia tiếp tục thắt chặt tiền tệ, nâng lãi suất; Đồng thời tạo ra điểm cân bằng mới, giảm áp lực cung - cầu ngoại hối trên thị trường; đặc biệt quyết sách trong điều hành tỷ giá tạo dư địa để điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt hơn.

“Đây là phản ứng sớm của NHNN nhằm tạo ra dư địa về chính sách trước khả năng cao Fed tiếp tục tăng lãi suất. Nếu chờ tới lúc Fed tăng lãi suất, NHNN mới điều chỉnh thì dư địa xử lý các vấn đề chính sách tiếp theo sẽ khó khăn hơn”, TS. Thành nhận xét.

chinh sach tien te ung bien ngay cang linh hoat
Chính sách tiền tệ được điều hành trong mối quan hệ phối hợp hài hoà với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác

TS. Lê Xuân Nghĩa - Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia cũng ghi nhận các động thái chính sách của NHNN nhanh nhạy, ứng biến linh hoạt hơn. Trước sức ép từ lạm phát, tăng lãi suất của Fed và các NHTW trên thế giới cũng như chỉ số USD-Index tăng liên tục từ đầu năm, trong khi cán cân thanh toán tổng thể yếu hơn những năm trước và để ổn định tỷ giá, NHNN đã phải bán ngoại tệ cân bằng cung cầu.

Điểm tích cực trong điều hành chính sách tiền tệ đó là NHNN kiểm soát cung tiền linh hoạt thông qua việc bơm, hút trên thị trường mở và kiểm soát chặt chẽ room tín dụng. Nhờ đó mà lạm phát của Việt Nam được kiểm soát và tỷ giá ít biến động nhất trong các nước so sánh với đồng USD. “Với biện pháp đồng bộ phối hợp nhịp nhàng của chính sách tiền tệ đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát đến cuối năm có thể dưới 4% như mục tiêu đề ra; hỗ trợ tăng trưởng kinh tế GDP ước đạt 7,4-7,5%”, TS. Lê Xuân Nghĩa nhận định.

Trong bối cảnh thế giới có nhiều rủi ro bất định, ông John Andre, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, đánh giá: các cơ quan quản lý của Việt Nam đang làm tốt việc điều hành chính sách tín dụng, tiền tệ. Động thái kiểm soát chặt tín dụng của NHNN sẽ buộc các NHTM phải lựa chọn đối tượng cho vay kỹ hơn; Đồng thời, ưu tiên các khoản vay có tính an toàn cao hơn. Điều này sẽ nâng cao chất lượng tín dụng, làm nền tảng để kinh tế phát triển.

Cần sự “chia lửa” từ tài khóa

Đứng trước bối cảnh áp lực lạm phát, tỷ giá, lãi suất trên thế giới hiện nay, giới chuyên môn cho rằng, điều hành chính sách tiền tệ trong ngắn hạn có thể phải chấp nhận đánh đổi, phải lựa chọn giữa ổn định lãi suất hay ổn định tỷ giá. Chọn thế nào thì cơ quan điều hành dựa vào đánh giá tác động và đặt lên bàn cân làm sao hài hoà các mục tiêu. TS. Võ Trí Thành gợi ý, cơ quan điều hành có thể lựa chọn mục tiêu ưu tiên trong mỗi giai đoạn. Song ưu tiên cao nhất vẫn là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Một chuyên gia khác đề xuất các cơ quan quản lý cần linh hoạt trong điều chỉnh chính sách tiền tệ, tài khoá với mức độ thích hợp để duy trì đà phục hồi kinh tế. “Chính sách tài khóa sẽ đóng vai trò quan trọng, trong đó tập trung giải ngân đầu tư công vì đây là nguồn cung vốn trực tiếp cho phục hồi và tăng trưởng kinh tế; cũng là chỗ dựa cho tăng trưởng khi dư địa chính sách tiền tệ còn rất hạn hẹp”, vị chuyên gia này nhấn mạnh và cho rằng, trong bối cảnh NHTW các nước đang đối mặt với nhiều thách thức đan xen như hiện nay, việc chỉ sử dụng riêng chính sách tiền tệ là không đủ mà cần phải có sự điều hành đồng bộ cả chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Trong đó, điều hành chính sách tiền tệ cần chủ động, thận trọng, thích ứng linh hoạt với diễn biến thị trường tài chính, tiền tệ và sự vận động của kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế, đảm bảo thanh khoản và cung ứng đủ vốn cho phục hồi kinh tế, ổn định các thị trường tiền tệ, ngoại tệ hướng tới mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Lưu ý trên cũng là giải pháp mà NHNN hướng đến trong giai đoạn tới. Theo chia sẻ mới đây của Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng, điều quan trọng đối với NHNN cũng như các bộ, ngành trong giai đoạn tới là cần phải tăng cường công tác dự báo, phân tích tình hình, liên tục cập nhật những diễn biến mới để chủ động đưa ra các giải pháp điều hành. Trong điều hành, Thống đốc cho rằng, cần phải phối hợp tổng thể các chính sách kinh tế vĩ mô chứ không chỉ riêng chính sách tiền tệ. Hiện nay, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã và đang chỉ đạo quyết liệt đối với tăng cường đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, cũng như thực hiện chính sách tài khóa mở rộng, có trọng tâm trọng điểm. Qua đó, sẽ giảm bớt áp lực đối với tiền tệ, tín dụng từ hệ thống ngân hàng. Hoặc là những giải pháp của Chính phủ đang chỉ đạo để tăng cường xúc tiến thương mại, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng cường thu hút đầu tư… giúp cải thiện cung - cầu ngoại tệ cũng như giảm áp lực đối với tỷ giá.

Thời gian tới, Thống đốc cho biết, NHNN chủ động bám sát và nắm chắc tình hình để đưa ra những giải pháp, công cụ điều hành phù hợp với liều lượng cũng như là thời điểm hợp lý. Phù hợp ở đây là phù hợp với xu thế thế giới nhưng cũng như phải phù hợp với thực tiễn, đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. “Chính sách tiền tệ cũng sẽ được điều hành trong mối quan hệ phối hợp hài hoà với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác trong tổng thể các giải pháp điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt, để kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế cũng như đảm bảo an sinh xã hội”, Thống đốc lưu ý thêm.

Nguyễn Vũ

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700