Cho vay 'tàu 67': Ngành Ngân hàng đã chủ động cơ cấu lại nợ cho ngư dân

10:40 | 06/11/2019

Ngành Ngân hàng đã chỉ đạo các TCTD trong thẩm quyền của mình tiến hành các giải pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ và trên thực tế đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho rất nhiều khách hàng là ngư dân vay vốn đóng "tàu 67", Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng đã thông tin như vậy khi phát biểu bổ sung phần chất vấn và trả lời chất vấn trước Quốc hội sáng 6/11 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Khánh Hòa: Giải quyết khó khăn trong cho vay “tàu 67”
Đại biểu Lê Công Nhường: Ngư dân chậm trả nợ tác động lớn đến các ngân hàng
Cho vay theo Nghị định 67: Quan trọng là ý thức trả nợ của ngư dân
Phiên chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội sáng 6/11. Ảnh: quochoi.vn

Để thực hiện Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020, ngày 7/7/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67 về một số chính sách phát triển thủy sản. Tuy nhiên chỉ sau một thời gian ngắn, hàng loạt bất cập đã phát sinh nên ngày 2/2/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 17 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67.

Sau hơn 3 năm triển khai, tính từ ngày 25/4/2014 đến 31/12/2017, thời điểm dừng ký kết hợp đồng tín dụng đóng mới, nâng cấp tàu theo Nghị định 67, các ngân hàng thương mại đã ký hợp đồng tín dụng đóng mới, nâng cấp cho 1.178 tàu (1.032 tàu đóng mới) với tổng số tiền cho vay gần 11.700 tỷ đồng.

Đại biểu Lê Công Nhường (Bình Định) cho biết tại Bình Định, UBND tỉnh đã phê duyệt 14 đợt cho 260 chủ tàu có đủ điều kiện đóng mới, nâng cấp tàu cá, trong đó cả 246 tàu khai thác, 14 tàu dịch vụ hậu cần và 8 chủ tàu đủ điều kiện nâng cấp với 50 tàu gỗ; đã có 61 chủ tàu ký hợp đồng đóng mới gồm 48 tàu thép, 8 tàu composite và 5 tàu gỗ; tổng số tiền cho vay gần 931 tỷ đồng và ngân hàng đã giải ngân 911 tỷ đồng. 

Cũng theo đại biểu Nhường, nhờ cú hích Nghị định 67 đã hiện đại hóa tàu cá vươn khơi bám biển. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai nghị định đã xảy ra một số bất cập. Dư nợ cho vay chuyển sang nợ xấu ngày càng tăng do khách hàng chậm trả nợ, do chi phí vận hành tàu sắt lớn, gồm có chi phí nhân công nhiều người hơn và nhiên liệu nhiều hơn nhưng đánh bắt sản lượng tăng không bao nhiêu, bởi vì nguồn lợi thủy sản của chúng ta có hạn, dẫn đến không hiệu quả nên ngư dân chậm trả nợ hoặc không trả nợ, tác động lớn đến tình hình tài chính của các ngân hàng tham gia cho vay theo Nghị định 67.

Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng báo cáo bổ sung phần trả lời chất vấn của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về cho vay theo Nghị định 67

Trả lời bổ sung về các giải pháp để giải quyết những vướng mắc liên quan đến Nghị định 67, Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng cho biết hiện nay, tổng dư nợ cho vay còn lại theo Nghị định 67 khoảng 10.500 tỷ đồng, tuy nhiên nợ xấu hiện chiếm khoảng 33%. Trước diễn biến trên, từ cuối năm 2018, NHNN với trách nhiệm theo dõi các hoạt động tín dụng của mình đã chủ động báo cáo Thủ tướng Chính phủ để chỉ đạo các bộ, ngành, cùng với các địa phương liên quan triển khai các biện pháp. Gần đây nhất, ngày 30/10, sau khi làm việc với các địa phương và bộ, ngành liên quan, NHNN tiếp tục có báo cáo Thủ tướng để có các giải pháp căn cơ triển khai xử lý.

Theo đó, tới đây Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ tham mưu cho Chính phủ và phối hợp với các địa phương rà soát lại quy hoạch phát triển tàu cá gắn với nguồn lợi thủy hải sản và các nhóm nghề, ngư trường khai thác, hướng dẫn ngư dân và các địa phương tổ chức lại sản xuất, hoạt động khai thác hiệu quả và bền vững hơn. UBND các tỉnh, thành phố triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đã có từ cuối năm 2018, trong đó tập trung phối hợp với ngành Ngân hàng rà soát các trường hợp cụ thể. Trong trường hợp bất khả kháng thì tiếp tục hỗ trợ cùng với ngành Ngân hàng để cơ cấu lại nợ cho ngư dân, còn trong trường hợp khác có biểu hiện ỷ lại, chây ì thì cũng phối hợp với ngành Ngân hàng để thu hồi nợ.

Bản thân ngành Ngân hàng cũng đã chủ động phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các bộ, ngành liên quan để hoàn thiện cơ chế chuyển đổi chủ tàu. Đặc biệt là có giải pháp để xử lý chênh lệch giữa giá trị thực tế của tàu được định giá lại và dư nợ của chủ tàu cũ ở thời điểm được bàn giao, đồng thời hướng dẫn bổ sung các giải pháp để hỗ trợ lãi suất đối với chủ tàu mới khi nhận lại toàn bộ khoản vay, bao gồm cả nợ quá hạn và nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ.

“Về phía ngành Ngân hàng, chúng tôi đã chỉ đạo các TCTD trong thẩm quyền của mình tiến hành các giải pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ và trên thực tế đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho rất nhiều khách hàng nông dân và ngư dân vay vốn. Thứ hai là ưu tiên tập trung thu nợ gốc trước, nợ lãi sau và thực hiện cơ chế hỗ trợ để chuyển đổi chủ tàu…”, Thống đốc NHNN phát biểu.

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.350 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.170 23.350 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.145 23.335 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.180 23.330 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.160 23.330 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.160 23.330 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.157 23..367 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.150 23.350 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.160 23.330 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.200 23.330 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.500
48.860
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.500
48.840
Vàng SJC 5c
48.500
48.860
Vàng nhẫn 9999
47.790
48.390
Vàng nữ trang 9999
47.340
48.140