Chỉ số kinh tế:
Ngày 24/9/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.635 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.404/26.866 đồng/USD. Kinh tế tháng 8/2026 ghi nhận nhiều chuyển động đáng chú ý khi IIP tăng 1,5% so với tháng trước, số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8 tăng 1,0%. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có xu hướng giảm, với gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 14,4%; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5%; 5.322 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0%; 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1%, trong khi 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng, chi 238,1 nghìn tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1%; trong đó xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2%, nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, cán cân thương mại nhập siêu 0,12 tỷ USD. CPI tăng 0,47%, trong khi chỉ số giá vàng giảm 0,65% và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38%. Vận tải hành khách đạt 658,6 triệu lượt khách, vận tải hàng hóa đạt 324,0 triệu tấn; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Chuyển đổi số quốc gia: Khi dữ liệu chưa được “đánh thức”

Hà Sơn
Hà Sơn  - 
Chuyển đổi số đang bước vào giai đoạn mới, khi bài toán không còn là thiếu dữ liệu, mà nằm ở khả năng kết nối, chia sẻ, tái sử dụng hiệu quả.
aa
Khi doanh nghiệp trở thành trung tâm của chuyển đổi số ngân hàng Chuyển đổi số tạo nền tảng mới cho du lịch Việt Nam Chuyển đổi số góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng chính sách trên địa bàn TP. Đồng Nai
Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia”
Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia”

Nhiều điểm nghẽn trong chuyển đổi số

Phát biểu tại Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia” diễn ra ngày 24/9, ông Trần Kiên, Trưởng phòng Chính sách số, Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết đang tồn tại khoảng cách trong thực thi chuyển đổi số giữa các bộ, ngành và địa phương.

Dẫn số liệu 5 tháng đầu năm 2026, ông Trần Kiên cho biết, khoảng cách lớn nhất nằm ở khả năng tái sử dụng dữ liệu. Tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu tại các bộ, ngành chỉ đạt hơn 5%, trong khi tại địa phương đạt 96%.

Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến tại các bộ, ngành cũng chỉ ở mức 34%, so với 94% tại địa phương; tỷ lệ số hóa hồ sơ và kết quả điện tử lần lượt là 19% tại các bộ, ngành và 89% tại địa phương.

Theo đại diện Cục Chuyển đổi số quốc gia, những con số trên cho thấy số hóa chưa đồng nghĩa với tạo ra giá trị nếu dữ liệu sau khi số hóa không được khai thác và tái sử dụng trong quy trình nghiệp vụ. Khâu tổ chức thực thi, kết nối và khai thác dữ liệu cần được tập trung tháo gỡ.

Ông Trần Kiên chỉ ra 6 nhóm điểm nghẽn cốt lõi. Thứ nhất là dữ liệu. Dữ liệu chưa bảo đảm yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống”, trong khi kết nối và chia sẻ còn hạn chế. Hiện vẫn còn 4/12 cơ sở dữ liệu trọng yếu và 39/104 cơ sở dữ liệu theo Nghị quyết 11 chưa kết nối, đồng bộ.

Thứ hai là quy trình. Việc số hóa cách làm cũ vẫn phổ biến, trong khi tỷ lệ tái cấu trúc quy trình và tái sử dụng dữ liệu thấp. Có 80/775 thủ tục hành chính chưa được tái cấu trúc.

Thứ ba là nền tảng, với tình trạng phân mảnh, trùng lặp, khiến cán bộ phải thao tác đồng thời trên nhiều hệ thống. Thứ tư là hạ tầng và an toàn thông tin. Thiết bị ở cấp cơ sở chưa đồng đều, việc bảo đảm an toàn thông tin chưa xuyên suốt; khoảng 30% máy tính chưa đáp ứng yêu cầu công việc.

Thứ năm là nhân lực và trách nhiệm. Tình trạng thiếu cán bộ chuyên trách, kỹ năng không đồng đều và chưa gắn trách nhiệm cuối cùng với người đứng đầu vẫn là những vấn đề cần giải quyết. Thứ sáu là đầu tư và tài chính. Công tác chuẩn bị đầu tư còn chậm, cơ chế nghiệm thu và dự toán chi phí vòng đời chưa phù hợp. Đến ngày 17/6/2026, mới giải ngân 12,1% kinh phí chuyển đổi số.

Chuẩn hóa dữ liệu, mở rộng hạ tầng số

Bên cạnh các điểm nghẽn, chuyển đổi số quốc gia đang đứng trước nhiều cơ hội. Khung thể chế mới tạo cơ sở để mở rộng dịch vụ số, quản trị dữ liệu và ứng dụng AI. Độ phủ 5G, Internet rộng khắp cùng hơn 71 triệu tài khoản VNeID tạo nền tảng người dùng lớn cho các dịch vụ số.

Hiện dữ liệu công, Trung tâm dữ liệu quốc gia và năng lực tính toán mở ra dư địa nâng cao năng suất. Trong khi đó, các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có cơ hội tham gia giải quyết bài toán chiến lược quốc gia thông qua thị trường Nhà nước.

Đại tá Ngô Như Cường, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06), Bộ Công an cho biết, VNeID đang trở thành điểm chạm số thống nhất phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Tuy nhiên, C06 chỉ ra 4 điểm nghẽn trong phát triển VNeID, gồm thể chế; liên thông dữ liệu và tổ chức hệ sinh thái VNeID; phát huy vai trò chủ thể của công dân số; khả năng sử dụng định danh điện tử xuyên biên giới.

Theo đại tá Ngô Như Cường, về thể chế, một số vấn đề liên quan đến giá trị pháp lý của danh tính số, chia sẻ và kiểm soát dữ liệu, cung cấp dịch vụ định danh, xác thực và công nhận kết quả xác thực cần được hoàn thiện.

Về dữ liệu, hiện còn tình trạng nhiều hệ thống, nhiều chuẩn kết nối, dữ liệu phân tán, chất lượng và độ phủ dữ liệu chưa đồng đều. Một số quy trình số chưa được thực hiện thường xuyên, đồng bộ từ đầu đến cuối.

Đối với công dân số, người dân không chỉ cần có tài khoản định danh điện tử mà phải thực sự sử dụng, chủ động cập nhật, kiểm soát dữ liệu và thụ hưởng các dịch vụ số.

Trong khi đó, việc kết nối, công nhận và sử dụng kết quả định danh điện tử giữa Việt Nam với các quốc gia khác mới ở giai đoạn triển khai, đòi hỏi giải quyết đồng thời các yêu cầu về pháp lý, kỹ thuật, an ninh, an toàn và chủ quyền dữ liệu.

Để tháo gỡ các điểm nghẽn, C06 xác định 4 hướng trọng tâm: tiếp tục hoàn thiện Luật Định danh và xác thực điện tử; triển khai Đề án phát triển VNeID giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045; triển khai Nghị quyết về phát triển công dân số; đồng thời đẩy mạnh kết nối VNeID với hệ thống định danh điện tử của các quốc gia.

C06 hướng tới phát triển VNeID thành hạ tầng định danh và tương tác số tin cậy của quốc gia, kết nối Nhà nước, người dân và doanh nghiệp trong nước, và liên thông với hệ thống định danh của các nước.

Ở góc độ quản lý dữ liệu, ông Trần Kiên cho biết, Bộ Khoa học và Công nghệ, đặc biệt là Cục Chuyển đổi số quốc gia, quan tâm đến việc ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn. Khi dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương tham gia xây dựng chưa theo một quy chuẩn thống nhất, Bộ sẽ nghiên cứu ban hành bộ tiêu chuẩn về dữ liệu, đồng thời phối hợp với Bộ Công an trong công tác quản lý nhà nước.

Khi dữ liệu được chuẩn hóa theo quy chuẩn, tiêu chuẩn, việc triển khai tại các địa phương, bộ, ngành sẽ thuận lợi hơn, qua đó thúc đẩy chia sẻ dữ liệu.

Nhìn từ các điểm nghẽn được chỉ ra, bài toán của chuyển đổi số đang chuyển từ mở rộng số hóa sang nâng chất lượng khai thác dữ liệu và liên thông hệ thống. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, quy trình được tái cấu trúc, nền tảng được kết nối và trách nhiệm được xác định rõ, giá trị của đầu tư số mới có điều kiện phát huy đầy đủ.

Đây cũng là yêu cầu đặt ra để chuyển đổi số không dừng ở việc đưa hồ sơ, thủ tục lên môi trường điện tử, mà trở thành công cụ cải thiện chất lượng phục vụ, nâng cao hiệu quả quản trị và tạo thêm dư địa cho đổi mới sáng tạo.

Hà Sơn

Tin liên quan

Tin khác

Gỡ

Gỡ 'nút thắt' để khoa học công nghệ bứt phá

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, ngành Công Thương đang chuyển trọng tâm từ triển khai nhiệm vụ sang tạo ra sản phẩm, công nghệ và giá trị cụ thể. Để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực trực tiếp cho tăng trưởng, các đại biểu cho rằng cần tháo gỡ đồng thời điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực, nhân lực và khả năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp.
Mở lối kinh tế xanh từ giá trị thiên nhiên

Mở lối kinh tế xanh từ giá trị thiên nhiên

Sở hữu nguồn “vốn tự nhiên” phong phú, miền Trung - Tây Nguyên có nhiều dư địa phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, qua đó tạo thêm sinh kế và những giá trị kinh tế bền vững.
Dữ liệu - nền tảng để phát triển đô thị thông minh

Dữ liệu - nền tảng để phát triển đô thị thông minh

Xác định dữ liệu là nền tảng, công nghệ số là công cụ, người dân và doanh nghiệp là trung tâm, TP. Hồ Chí Minh đang chuyển từ số hóa từng lĩnh vực sang quản trị đô thị dựa trên dữ liệu. Mục tiêu không chỉ ứng dụng thêm công nghệ mà quan trọng hơn là nâng cao khả năng dự báo, giải quyết các vấn đề đô thị và cải thiện chất lượng sống của người dân.
Từ lợi thế năng lượng đến hệ sinh thái công nghiệp xanh liên vùng

Từ lợi thế năng lượng đến hệ sinh thái công nghiệp xanh liên vùng

Việt Nam đang nghiên cứu phát triển các trung tâm công nghiệp - dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng tại những khu vực có tiềm năng lớn, hướng tới khai thác hiệu quả điện gió, điện mặt trời và quan trọng hơn là hình thành một hệ sinh thái công nghiệp xanh ngay trong nước. Mô hình này được kỳ vọng kết nối từ sản xuất điện, chế tạo thiết bị, hạ tầng cảng biển, logistics đến đào tạo nhân lực, qua đó mở rộng chuỗi giá trị và tạo động lực mới cho quá trình chuyển dịch năng lượng.
Ghép dòng tiền cho dự án điện rác

Ghép dòng tiền cho dự án điện rác

Khung giá phát điện rác năm 2026 dự kiến giảm đang rà soát lại phương án vốn của nhiều dự án. Khả năng tiếp cận tín dụng vì vậy không chỉ phụ thuộc vào tiền điện, mà còn được quyết định bởi phí xử lý rác và độ chắc chắn của các hợp đồng đầu ra.
Đưa logistics trở thành bộ phận quan trọng của hạ tầng kinh tế quốc gia

Đưa logistics trở thành bộ phận quan trọng của hạ tầng kinh tế quốc gia

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh tư duy và hành động từ phát triển logistics theo địa giới hành chính sang tổ chức theo vùng kinh tế, hành lang kinh tế và chuỗi cung ứng; đồng thời tập trung giảm chi phí logistics, tăng kết nối các phương thức vận tải và phát triển hệ thống cảng biển theo hướng hiện đại, xanh, thông minh.
Nâng hiệu quả năng lượng, tạo sức bật cho nền kinh tế

Nâng hiệu quả năng lượng, tạo sức bật cho nền kinh tế

Áp lực chi phí sản xuất cùng những tiêu chuẩn ngày càng cao về môi trường đang đặt doanh nghiệp trước yêu cầu phải sử dụng hiệu quả hơn từng nguồn lực đầu vào. Trong đó, tiết kiệm năng lượng không chỉ giúp giảm chi phí, tối ưu hoạt động sản xuất, mà còn mở ra dư địa nâng cao năng suất, cải thiện sức cạnh tranh và giảm phát thải. Khi hiệu quả năng lượng được chuyển hóa thành hiệu quả kinh tế, đây có thể trở thành một nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng xanh và bền vững.
Từ tăng vốn sang tăng năng suất: Đường tới tăng trưởng hai con số

Từ tăng vốn sang tăng năng suất: Đường tới tăng trưởng hai con số

Mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ đòi hỏi huy động thêm nguồn lực, mà quan trọng hơn là nâng hiệu quả sử dụng vốn, năng suất lao động và đóng góp của TFP. Đó là bước chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang mô hình dựa nhiều hơn vào công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực nội sinh.
Hành lang pháp lý phải theo kịp sự bùng nổ của tài chính số

Hành lang pháp lý phải theo kịp sự bùng nổ của tài chính số

Tài chính số phát triển nhanh đang mở rộng khả năng tiếp cận vốn, thanh toán và đầu tư cho doanh nghiệp, nhưng đồng thời làm xuất hiện những rủi ro mới về dữ liệu, an ninh mạng, tài sản số và trách nhiệm của các nền tảng. Thực tế này đặt ra yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý theo hướng quản lý rủi ro, bảo đảm an toàn giao dịch và củng cố niềm tin của doanh nghiệp vào thị trường tài chính.
Biến “gánh nặng” chất thải thành tài nguyên

Biến “gánh nặng” chất thải thành tài nguyên

Mỗi ngày, Việt Nam phát sinh hơn 72.000 tấn chất thải rắn sinh hoạt, trong khi gần 60% vẫn được xử lý bằng phương pháp chôn lấp. Trong bối cảnh đó, việc chuyển từ tư duy “xử lý rác” sang “quản lý tài nguyên từ chất thải” được xem là chìa khóa để biến gánh nặng môi trường thành nguồn lực cho kinh tế tuần hoàn.