Đánh giá lại quy mô GDP: Số liệu đúng mang lại các chính sách đúng

08:59 | 16/12/2019

Cuối tuần qua, Tổng cục Thống kê đã công bố kết quả đánh giá lại quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) giai đoạn 2010 – 2017. Trong đó nhấn mạnh, mục đích chính của việc đánh giá lại phản ánh đúng hiện trạng của nền kinh tế để xây dựng các mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030.

Quy mô GDP tăng bình quân 25,4%/năm sau khi đánh giá lại
Giai đoạn 2021-2025, GDP của Việt Nam có thể tăng trung bình 7%
Nền kinh tế đang thay đổi rất nhanh và cần được cập nhật thường xuyên

Nền kinh tế chuyển dịch rõ nét hơn 

Ông Nguyễn Bích Lâm - Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho biết, quy mô GDP đánh giá lại của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành tăng bình quân 25,4%/năm giai đoạn 2010-2017, tương ứng tăng 935.000 tỷ đồng/năm, trong đó năm 2011 có tỷ lệ tăng cao nhất với 27,3% và năm 2015 có tỷ lệ tăng thấp nhất là 23,8%. Năm 2017, quy mô GDP sau khi đánh giá lại đạt 6,29 triệu tỷ đồng (số đã công bố trước đây là hơn 5 triệu tỷ đồng).

Về khu vực kinh tế, giá trị tăng thêm theo giá hiện hành của cả 3 khu vực đều tăng sau khi đánh giá lại, trong đó quy mô khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực dịch vụ tăng khá lớn. Cụ thể, giai đoạn 2010-2017, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng thêm từ 27,6%-36,6% so với số đã công bố; khu vực dịch vụ tăng thêm 29,8%-39,6%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng thêm 5,4%-6,2%.

Giá trị tăng thêm của mỗi khu vực đã làm cơ cấu GDP thay đổi, phản ánh rõ hơn xu hướng chuyển dịch của nền kinh tế. Theo đó bình quân mỗi năm giai đoạn 2010-2017, cơ cấu giá trị của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP giảm xuống còn 14,7% (giảm 2,7 điểm %); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng lên 34,8% (tăng 1,8 điểm %); khu vực dịch vụ tăng lên 41,2% (tăng 2 điểm %); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng về quy mô so với số đã công bố nhưng cơ cấu trong GDP giảm xuống 9,3% bình quân cả giai đoạn.

Quy mô nền kinh tế thay đổi khiến một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp có liên quan cũng biến động. Đáng chú ý, GDP bình quân đầu người bình quân tăng thêm 10,3 triệu đồng/người/năm, tương ứng 25,6%/năm. GDP bình quân đầu người năm 2017 đạt 66,8 triệu đồng, tương đương 2.985 USD; tăng đáng kể so với mức cũ là 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD. Một số chỉ tiêu vĩ mô quan trọng khác như tỷ lệ nợ công so với GDP đến cuối năm 2017 giảm xuống còn 48,8%; tỷ lệ bội chi ngân sách còn 2,8%; tỷ lệ chi ngân sách so với GDP còn 21,5%...

Lý giải về các nguyên nhân dẫn đến thay đổi quy mô GDP, Tổng cục Thống kê cho biết, đó là do kinh tế Việt Nam từ năm 2010 đến nay có nhiều chuyển biến, cơ cấu kinh tế chuyển dịch khá nhanh cùng với sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và tốc độ. Chủ trương và chính sách của Nhà nước về phát triển khu vực sản xuất tư nhân, khuyến khích chuyển đổi từ hộ sản xuất kinh doanh sang doanh nghiệp dẫn đến sự phát triển nhanh của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. 

“Sự phát triển nhanh của khu vực doanh nghiệp trong giai đoạn vừa qua chưa được phản ánh kịp thời và đầy đủ trong dữ liệu của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến quy mô GDP chưa được tính toán đầy đủ”, Tổng cục trưởng Nguyễn Bích Lâm nhấn mạnh. 

Cụ thể, có 5 nhóm nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thay đổi quy mô GDP, trong đó có 4 nhóm nguyên nhân làm tăng quy mô GDP gồm: bổ sung thông tin từ tổng điều tra; bổ sung thông tin từ hồ sơ hành chính; cập nhật lý luận mới hệ thống tài khoản quốc gia 2008; rà soát, cập nhật lại phân ngành kinh tế. Ngoài ra, nhóm nguyên nhân thứ 5 làm giảm quy mô GDP là cập nhật cơ cấu kinh tế làm thay đổi hệ số chi phí trung gian và chỉ số giá của cả nước. 

Không bỏ sót những yếu tố mới

Ông Kamal Malhotra - điều phối viên thường trú của Liên hợp quốc tại Việt Nam nhận định, việc đánh giá lại quy mô GDP là cần thiết và đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện do con số này là đơn vị đo lường quan trọng của nền kinh tế. Khi quy mô GDP được đánh giá đúng sẽ phản ánh bức tranh kinh tế sát thực và rõ nét hơn. Điều đó không chỉ giúp Chính phủ quản lý kinh tế vĩ mô hiệu quả hơn mà còn giúp doanh nghiệp, người kinh doanh có chính sách, chiến lược trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

Ông Jonathan Pincus - Cố vấn kinh tế cấp cao của UNDP cũng khuyến nghị, thông lệ tốt từ điều chỉnh GDP là phải làm thường xuyên và công bố với dư luận xã hội rằng sẽ điều chỉnh trước khi đưa ra con số chính thức. Bên cạnh đó, ông lưu ý thêm rằng việc điều chỉnh năm gốc không nên để quá 10 năm, mà thường là theo lộ trình 5 năm một lần. Bởi lẽ nền kinh tế hiện nay đang thay đổi rất nhanh. 

Đại diện của UNDP phân tích, những năm đầu thập kỷ 90 ở các nước phát triển nền kinh tế nói chung dựa trên các công ty sản xuất xe ô tô và khai thác dầu để cung cấp xăng dầu cho ô tô. Vì vậy làm nên diện mạo của cả nền kinh tế là các công ty hàng đầu thế giới trong lĩnh vực sắt thép, ô tô, dầu khí… Cấu trúc này không thay đổi cho đến đầu năm 2000, khi Walmart là công ty hàng đầu trong lĩnh vực bán lẻ xuất hiện và trở thành một trong những công ty có thứ hạng cao nhất trong danh sách các doanh nghiệp hàng đầu thế giới. Những bước chuyển dịch tiếp theo của kinh tế toàn cầu là sau khi dịch vụ hoá đã chuyển sang tài chính hoá và các công ty lớn nhất là công ty tài chính. Gần đây nền kinh tế toàn cầu lại tiếp tục bước sang  giai đoạn số hoá, và với đó là các công ty quản lý dữ liệu như Google và các công ty vừa bán sản phẩm vừa quản lý dữ liệu như Apple. 

“Diễn biến này cho thấy nền kinh tế đang thay đổi cực kỳ nhanh, những năm 90 không ai tưởng tượng được các công ty ô tô sẽ không còn giữ vai trò cầm đầu nữa, mà lại là công ty quản lý dữ liệu như ngày hôm nay”, ông Jonathan Pincus chốt lại. 

Theo khuyến nghị của UNDP, hiện nay cơ quan thống kê Liên hợp quốc cũng như các nước thành viên chắc chắn còn nhiều việc phải làm nhằm điều chỉnh phương pháp tính, để không bỏ sót những yếu tố mới xuất hiện. Chẳng hạn các phương thức trong thanh toán quốc tế, hoặc đóng góp của kinh tế chia sẻ như Uber, Grab; hay tính công việc của phụ nữ làm ở gia đình mà không được trả lương… Cuối cùng là vấn đề môi trường, làm thế nào số liệu tài khoản quốc gia đo được tác động làm giảm GDP của ô nhiễm môi trường.

Cùng với quy mô GDP tăng lên, tốc độ tăng GDP hàng năm trong giai đoạn 2011-2017 cũng tăng nhẹ 0,13-0,48 điểm %/năm, phù hợp với xu hướng tăng trưởng công bố hàng năm. Trong đó năm 2016 tăng cao nhất với 0,48 điểm %. Tốc độ tăng GDP các năm giai đoạn 2011-2017 lần lượt là: 6,41%; 5,50%; 5,55%; 6,42%; 6,99%; 6,69%; 6,94%.

Ngọc Khanh 

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.090 23.270 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.090 23.270 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.090 23.260 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.090 23.260 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.090 23.260 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.078 23..288 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.075 23.275 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.110 23.270 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.120 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.200
50.600
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.200
50.620
Vàng SJC 5c
50.200
50.600
Vàng nhẫn 9999
49.850
50.400
Vàng nữ trang 9999
49.550
50.300