Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 21-25/12

07:58 | 28/12/2020

Thông tin kinh tế nổi bật tuần qua là thông tin GDP Việt Nam năm 2020 tăng 2,91%, mức tăng thấp nhất giai đoạn 2011-2020 nhưng thuộc nhóm tăng trưởng cao nhất thế giới, chỉ số giá tiêu dùng thấp nhất nhiều năm.

diem lai thong tin kinh te tuan tu 21 2512 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 24/12
diem lai thong tin kinh te tuan tu 21 2512 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 23/12
diem lai thong tin kinh te tuan tu 21 2512 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 22/12

Tổng quan

GDP quý IV ước tính tăng 4,48% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất trong của quý IV các năm trong giai đoạn 2011-2020. Như vậy, GDP Việt Nam năm 2020 tăng 2,91%, trong đó quý I tăng 3,68%, quý II tăng 0,39%, quý III tăng 2,69%, quý IV tăng 4,48%. Tuy đây là mức tăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn 2011-2020 nhưng trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội thì đây là thành công lớn của Việt Nam với mức tăng trưởng năm 2020 thuộc nhóm cao nhất thế giới. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,68%, đóng góp 13,5% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,98%, đóng góp 53%; khu vực dịch vụ tăng 2,34%, đóng góp 33,5%.

Về cơ cấu nền kinh tế năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,85%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,72%; khu vực dịch vụ chiếm 41,63%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,8% (cơ cấu tương ứng của năm 2019 là: 13,96%; 34,49%; 41,64%; 9,91%).

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp năm 2020 tăng 3,36% so với năm trước, đóng góp 1,12 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo đóng vai trò chủ chốt dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế với mức tăng 5,82%, đóng góp 1,25 đpt; sản xuất và phân phối điện tăng 3,92%, đóng góp 0,19 đpt; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,51%, đóng góp 0,04 đpt; khai khoáng giảm 5,62% (do sản lượng khai thác dầu thô giảm 12,6% và khí đốt tự nhiên giảm 11,5%), làm giảm 0,36 đpt trong mức tăng chung. Ngành xây dựng tăng 6,76%, cao hơn tốc độ tăng của các năm 2011, năm 2012 và năm 2013 trong giai đoạn 2011-2020, đóng góp 0,5 đpt.

Chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 12/2020 tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 0,19% so với cùng kỳ năm, là mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020. Có 7/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có CPI tháng 12 tăng so với tháng trước, trong đó nhóm giao thông tăng cao nhất 2,45% do ảnh hưởng từ đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm 26/11/2020, thời điểm 11/12/2020 và thời điểm 26/12/2020 làm giá xăng, dầu tăng 6,52% (tác động làm CPI chung tăng 0,23.

Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,15% và nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01% do nhu cầu mua sắm quần áo, giày dép và nhu cầu sử dụng các thiết bị và đồ dùng gia đình tăng khi thời tiết chuyển sang rét đậm, rét hại tại các tỉnh phía Bắc. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,13% do nhu cầu phục vụ Giáng sinh, Tết Dương lịch năm 2021 và chuẩn bị nguồn hàng đón Tết Nguyên đán sắp tới; nhóm giáo dục và nhóm thuốc và dịch vụ y tế cùng tăng 0,01%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,12%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá giảm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,41% (trong đó, lương thực tăng 0,43% do giá gạo tăng 0,64%; thực phẩm giảm 0,77%); nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,1% do các công ty du lịch đưa ra các chương trình kích cầu du lịch nội địa; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,03% chủ yếu do thời tiết lạnh ở các tỉnh phía Bắc và dịu mát ở các tỉnh miền Nam nên nhu cầu sử dụng điện.

Tính chung quý IV/2020, CPI tăng 0,22% so với quý trước và tăng 1,38% so với quý IV/2019, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,23% so với cùng kỳ năm trước; giáo dục tăng 3,82% (dịch vụ giáo dục tăng 4,17%); đồ uống và thuốc lá tăng 1,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,79%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,54%; nhà ở và VLXD tăng 0,51%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,48%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,2%. Ba nhóm có chỉ số giá giảm so với cùng kỳ năm trước là giao thông giảm 12,82%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 2,28%; bưu chính viễn thông giảm 0,55%. CPI bình quân năm 2020 tăng 3,23% so với bình quân năm 2019, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra là dưới 4%. Tốc độ tăng CPI bình quân các năm so với năm trước giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: 2,66%; 3,53%; 3,54%; 2,79%; 3,23%.

CPI bình quân năm 2020 tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (i) Giá các mặt hàng lương thực tăng 4,51% so với năm trước (làm CPI chung tăng 0,17%), trong đó giá gạo tăng 5,14% do giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng; (ii) Giá các mặt hàng thực phẩm tăng 12,28% so với năm trước (làm CPI chung tăng 2,61%), trong đó riêng giá thịt lợn tăng 57,23% (làm CPI chung tăng 1,94%); (iii) Giá thuốc và thiết bị y tế tăng 1,35% do dịch Covid-19 trên thế giới vẫn diễn biến phức tạp nên nhu cầu về mặt hàng này ở mức cao; (iv) Tiếp tục thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP làm chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục năm 2020 tăng 4,32% so với năm 2019.

Bên cạnh đó có một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI năm 2020: (i) Giá các mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu giảm 23,03% so với năm trước (làm CPI chung giảm 0,83%); giá dầu hỏa giảm 31,21%; giá gas trong nước giảm 0,95% do ảnh hưởng của giá nhiên liệu thế giới; (ii) Nhu cầu đi lại, du lịch của người dân giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm giá của nhóm du lịch trọn gói giảm 6,24% so với năm trước; (iii) Chính phủ triển khai các gói hỗ trợ cho người dân và người sản xuất gặp khó khăn do dịch Covid-19; (iv) Các cấp, các ngành tích cực triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để ngăn chặn diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19. Lạm phát cơ bản tháng 12/2020 tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 0,99% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân năm 2020 tăng 2,31% so với bình quân năm 2019.

Tóm lược thị trường trong nước từ 21/12 - 25/12

Thị trường ngoại tệ: Tuần từ 21/12 - 25/12, tỷ giá trung tâm tiếp tục được NHNN điều chỉnh tăng mạnh 3 phiên đầu tuần và giảm trở lại lại 2 phiên sau đó. Chốt phiên 25/12, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.152 VND/USD, tăng 14 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. Tỷ giá mua giao ngay được giữ niêm yết ở mức 23.125 VND/USD. Tỷ giá bán được NHNN niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, chốt tuần ở mức 23.797 VND/USD.

Tỷ giá LNH chỉ biến động tăng – giảm nhẹ qua các phiên trong tuần qua. Chốt phiên 25/12, tỷ giá LNH đóng cửa tại 23.125 VND/USD, giảm 05 đồng so với phiên 18/12.

Tỷ giá trên thị trường tự do biến động theo xu hướng đi lên trong tuần vừa qua. Chốt tuần 25/12, tỷ giá tự do tăng mạnh 60 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với cuối tuần trước đó, giao dịch tại 23.260 – 23.290 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Trong tuần từ 21/12 - 25/12, lãi suất VND LNH tiếp tục biến động rất nhẹ ở tất cả các kỳ hạn qua các phiên. Chốt phiên 25/12, lãi suất VND LNH giao dịch quanh mức: ON 0,15% (không thay đổi so với phiên cuối tuần trước đó); 1W 0,21% (+0,01 đpt); 2W 0,29% (+0,03 đpt); 1M 0,41% (+0,01 đpt).

Tương tự, lãi suất USD LNH tiếp tục tăng – giảm nhẹ qua các phiên trong tuần qua, chốt tuần không thay đổi so với cuối tuần trước đó ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống, đóng cửa tại: ON 0,14; 1W 0,19%; 2W 0,24% và 1M 0,36%.

Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần từ 21/12 - 25/12, NHNN chào thầu 1.000 tỷ đồng/phiên trên kênh cầm cố ở tất cả các phiên với kỳ hạn 07 ngày, lãi suất duy trì ở mức 2,50%. Không có khối lượng trúng thầu trong tuần vừa qua, do đó không xuất hiện khối lượng lưu hành trên kênh này.

NHNN tiếp tục không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần qua.

Thị trường trái phiếu: Trong tuần qua, KBNN huy động thành công 12.114/12.500 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 70%). Trong đó, kỳ hạn 10 năm, 15 năm và 20 năm huy động toàn bộ lần lượt 4.500 tỷ đồng, 6.000 tỷ đồng và 1.000 tỷ đồng. Riêng kỳ hạn 30 năm chỉ huy động được 614/1.000 tỷ đồng. Lãi suất phát hành kỳ hạn 10 năm tại 2,28%/năm (-0,04%); kỳ hạn 15 năm tại 2,5%/năm (-0,04%); kỳ hạn 20 năm tại 2,89%/năm (-0,04%); kỳ hạn 30 năm tại 3,14%/năm (-0,01%). Trong tuần có 500 tỷ đồng đáo hạn.

Trước đó ngày 22/12, VDB huy động thành công 2.150/3.050 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 70%). Trong đó, kỳ hạn 10 năm huy động thành công 600/1.500 tỷ đồng; kỳ hạn 15 năm huy động thành công toàn bộ 1.500 tỷ đồng. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 10 năm giữ nguyên tại 2,75%/năm; kỳ hạn 15 năm tại 2,85%/năm (-0,05%).

Trong tuần này từ 28/12/2020 - 01/01/2021, KBNN và VDB dự kiến gọi thầu 6.900 tỷ đồng (chưa bao gồm đấu thầu bổ sung). Trong tuần này có 510 tỷ đồng đáo hạn.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 14.039 tỷ đồng/phiên, giảm khá mạnh từ mức 15.521 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP tuần qua biến động trái chiều ở các kỳ hạn. Chốt phiên 25/12, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1 năm 0,16% (-0,04 đpt); 2 năm 0,26% (0 đpt); 3 năm 0,35% (0 đpt); 5 năm 0,93% (-0,09đpt); 7 năm 1,23% (-0,06 đpt); 10 năm 2,35% (-0,01 đpt); 15 năm 2,56% (-0,02 đpt); 30 năm 3,17% (+0,02 đpt).

Thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán tuần 21/12 - 25/12 vẫn tiếp tục xu hướng tăng điểm tích cực của các tuần trước đó. Chốt phiên cuối tuần 25/12, VN-Index tăng 16,96 điểm (+1,59%) đạt mức 1.084,42 điểm; HNX-Index đóng cửa tuần tăng 15,44 điểm (+8,72%) dừng tại 192,46 điểm; UPCOM-Index tăng 1,99 điểm (+2,80%) lên 72,94 điểm.

Thanh khoản thị trường đạt mức rất cao trong tuần vừa qua với giá trị giao dịch đạt trên 15.600 tỷ đồng/phiên. Các nhà đầu tư nước ngoài vẫn bán ròng mạnh hơn 1.060 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

Tin quốc tế

Quốc hội Mỹ thông qua gói cứu trợ kinh tế mới, tuy nhiên vấp phải sự phản đối từ Tổng thống Donald Trump. Cũng trong tuần qua, nước này đón một số chỉ báo kinh tế trái chiều. Thượng viện Mỹ ngày 21/12 đã thông qua gói cứu trợ trị giá 892 tỷ USD với 92 phiếu thuận và 6 phiếu chống. Trước đó, Hạ viện của nước này cũng đã thông qua với 359 phiếu thuận và 53 phiếu chống. Bên cạnh gói kích thích này, lưỡng viện cũng thông qua kế hoạch ngân sách Liên bang trị giá 1.400 tỷ USD cho năm tài khóa 2021.

Mặc dù đây là thành công sau nhiều thời gian Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa bất đồng ý kiến, Tổng thống Mỹ Donald Trump vẫn từ chối ký ban hành dự luật trên. Ông Trump phàn nàn mức chi 600 USD/người viện trợ cho mỗi người dân Mỹ gặp khó khăn là quá nhỏ, đề nghị nâng lên thành 2.000 USD/người. Liên quan tới thông tin kinh tế Mỹ, GDP quý 3 của nước này được điều chỉnh, chính thức tăng 33,4% q/q, cao hơn so với mức tăng 33,1% theo báo cáo sơ bộ. Tiếp theo, doanh số bán nhà cũ của nước Mỹ đạt mức 6,69 triệu căn trong tháng 11, chỉ giảm nhẹ so với mức 6,85 triệu căn của tháng 10 và gần khớp với dự báo ở mức 6,70 triệu.

Doanh số bán nhà mới tại Mỹ trong tháng 11 chỉ ở mức 841 nghìn căn, thấp hơn mức 945 nghìn căn của tháng 10 và đồng thời thấp hơn nhiều so với mức 994 nghìn căn theo dự báo. Giá trị đơn đặt hàng hàng hóa lâu bền lõi của Mỹ tăng 0,4% m/m trong tháng 11 sau khi tăng 1,9% ở tháng 10, gần đạt mức tăng 0,5% theo dự báo. Tuy nhiên, giá trị đơn đặt hàng hàng hóa lâu bền chung lại tăng 0,9% m/m trong tháng 11 sau khi tăng 1,8% ở tháng 10, vượt mức tăng 0,6% theo kỳ vọng.

Anh và Liên minh Châu Âu EU đồng ý với thỏa thuận Brexit, ngoài ra nước Anh cũng đón thông tin kinh tế quan trọng. Ngày 25/12, Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen và Thủ tướng Anh Boris Johnson cùng thông báo hai bên đã đồng ý với một thỏa thuận Brexit. Ngày 26/12, nước Anh chính thức công bố toàn văn bản thỏa thuận này gồm các điều khoản về thương mại, năng lượng hạt nhân, trao đổi thông tin và một loạt các lĩnh vực khác. Vấn đề quan trọng nhất được chú ý là hầu hết các mặt hàng thương mại giữa Anh và EU được miễn thuế, trong bối cảnh giá trị kim ngạch giữa hai nền kinh tế này mỗi năm đạt khoảng 900 tỷ USD. Thỏa thuận Brexit trên sẽ giúp nước Anh trở thành nền kinh tế ngoài EU được quyền tiếp cận thị trường EU một cách toàn diện nhất.

Về quyền lợi đánh bắt cá, các nước thuộc EU được bảo đảm quyền tiếp cận các vùng biển của Anh trong 5 năm kể từ ngày 01/01/2021, nhưng với hạn ngạch bị cắt giảm 25% so với hiện nay. Khi thời hạn này kết thúc hai bên sẽ họp hàng năm để đưa ra quyết định tiếp theo. Về luật cạnh tranh bình đẳng, Anh sẽ phải duy trì các tiêu chuẩn về mức trợ cấp của nhà nước dành cho các doanh nghiệp, tiêu chuẩn môi trường và quyền lợi của người lao động, nhằm đảm bảo công bằng cho các doanh nghiệp của EU tại Anh. Quốc hội nước Anh sẽ họp khẩn cấp vào ngày 30/12 để bỏ phiếu về thỏa thuận này, sau đó Nghị viện Châu Âu EP cũng sẽ phân tích và đưa ra quyết định chính thức trong tháng 01/2021.

Liên quan đến kinh tế Anh, GDP của nước này trong quý 3 được điều chỉnh, chính thức tăng 16,0% q/q, tích cực hơn so với mức tăng 15,5% theo báo cáo sơ bộ. Cán cân vãng lai tại Anh thâm hụt 15,7 tỷ GBP trong quý 3, sâu hơn mức thâm hụt 11,9 tỷ của quý 2, đồng thời sâu hơn mức thâm hụt 12,9 tỷ theo dự báo.

P.L

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.827 23.047 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.846 23.058 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.825 23.045 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.880 23.060 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.950
57.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.950
57.550
Vàng SJC 5c
56.950
57.570
Vàng nhẫn 9999
53.100
53.700
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.400