ECB cố gắng vãn hồi nền kinh tế khu vực

08:50 | 08/06/2020

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) công bố hôm thứ Năm tuần trước (4/6) là họ sẽ tăng Chương trình mua trái phiếu khẩn cấp trong đại dịch thêm 600 tỷ euro (672 tỷ USD) lên 1,35 nghìn tỷ euro trong một nỗ lực nhằm cứu vãn nền kinh tế khu vực đồng tiền chung đang bị tàn phá bởi đại dịch coronavirus.

Kinh tế Eurozone có thể tồi tệ hơn dự kiến
Tương lai của Eurozone đang bị đe dọa
Các kế hoạch giải cứu kinh tế của EU có nguy cơ đổ bể

Nỗ lực cứu vãn

Trước đó ngày 18/3, ECB đã thông qua Chương trình mua trái phiếu khẩn cấp trong đại dịch (PEPP) với quy mô 750 tỷ euro (819 tỷ USD) trong bối cảnh đại dịch coronavirus đang bùng phát mạnh mẽ tại nhiều quốc gia trong khu vực, buộc nhiều quốc gia phải đóng cửa để ngăn ngừa dịch bệnh lây lan. Không chỉ vậy để hỗ trợ các nền kinh tế trong khu vực ứng phó với đại dịch, ECB còn mở rộng danh mục tài sản mua vào, bao gồm cả trái phiếu Chính phủ có xếp hạng tín nhiệm thấp và cả trái phiếu doanh nghiệp.

Chương trình này được dự kiến sẽ kéo dài cho đến hết năm 2020. Tuy nhiên với tốc độ mua vào khủng hiện nay, nhiều chuyên gia dự kiến giới hạn 750 tỷ euro sẽ bị phá vỡ vào tháng 10, buộc ECB phải mở rộng quy mô của chương trình. ECB cũng cho biết, thời gian của chương trình sẽ được kéo dài từ cuối năm 2020 đến tháng 6/2021 hoặc cho đến khi ngân hàng tin rằng cuộc khủng hoảng đã kết thúc.

Chủ tịch ECB Christine Lagarde

Trước những băn khoăn của giới chuyên môn rằng mức tăng 600 tỷ euro sẽ không đủ để chi trả cho các giao dịch mua cho đến tháng 6/2021, phát biểu tại buổi họp báo sau khi ECB đưa ra quyết định này, Chủ tịch ECB Christine Lagarde cho biết, quy mô của chương trình đã được tính toán cẩn trọng và phù hợp với diễn biến thực tế hiện nay của dịch bệnh.

Trên thực tế, chương trình mua trái phiếu khẩn cấp cũng đã giúp giữ chi phí vay thấp hơn cho 19 quốc gia trong khu vực đồng tiền chung euro. Thông báo của ECB hôm thứ Năm tuần trước cũng giúp giảm thêm chi phí đi vay, như lợi suất trái phiếu Chính phủ 10 năm của Ý giảm từ mức cao trong phiên giao dịch ngày hôm đó là trên 1,56% xuống còn 1,40% sau khi quyết định được công bố. Diễn biến tương tự cũng xảy ra đối với nợ có chủ quyền của Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.

“Quan điểm nới lỏng chính sách tiền tệ mạnh mẽ hơn đã giúp ngăn chặn những rủi ro suy giảm”, Holger Schmieding - Nhà kinh tế trưởng của ngân hàng Berenberg cho biết qua email. “Ngoài ra, tín hiệu mạnh mẽ này có thể thúc đẩy sự phục hồi niềm tin của các hộ gia đình và các công ty rằng điều tồi tệ nhất sẽ sớm kết thúc”.

Triển vọng vẫn u ám

Sự lạc quan này cũng đã giúp đồng euro tăng giá tới 0,25% so với đồng đôla Mỹ ngay sau khi quyết định của ECB được công bố. Tuy nhiên, đồng tiền chung lại nhanh chóng đảo chiều giảm trở lại sau những dự báo không mấy sáng sủa về kinh tế khu vực của ECB. Phát biểu tại buổi họp báo, Chủ tịch ECB Lagarde cho biết, khu vực đồng euro đang phải đối mặt với “sự suy giảm chưa từng thấy”.

Trong báo cáo cập nhật của mình, ECB đã cắt giảm mạnh dự báo tăng trưởng của khu vực đồng euro xuống còn -8,7% trong năm nay thay vì mức tăng trưởng 0,8% như dự báo được đưa ra hồi tháng 3. Tuy nhiên, kinh tế khu vực được dự báo sẽ hồi phục lên mức tăng trưởng 5,2% vào năm 2021 và 3,3% vào năm 2022. ECB cũng dự báo lạm phát sẽ ở mức 0,3% trong năm 2020 và 0,8% trong năm 2021 - thấp hơn nhiều so với mục tiêu lạm phát của ECB là “gần sát dưới 2%”.

Bà Lagarde cũng giải thích thêm rằng, các dự báo phụ thuộc vào thời gian xảy ra kéo dài của đại dịch và hiệu quả của các chính sách được thực hiện trên toàn khu vực. Trước đó, ECB đã từng cảnh báo, nền kinh tế khu vực đồng euro có thể bị thu hẹp tới 15% trong kịch bản xấu nhất do tác động của cuộc khủng hoảng coronavirus.

Các dữ liệu kinh tế được công bố gần đây cũng cho thấy những tác động nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng coronavirus đến kinh tế châu Âu. Tỷ lệ thất nghiệp trong khu vực đồng euro đã tăng lên 7,3% trong tháng 4 từ mức 7,1% trong tháng 3 do các biện pháp cách ly xã hội. Tuy nhiên hoạt động kinh doanh trong khu vực đã có dấu hiệu hồi phục nhẹ sau khi lao dốc xuống mức thấp kỷ lục vào đầu năm nay. Hoạt động sản xuất và dịch vụ đạt mức cao nhất trong ba tháng vào tháng 5, sau khi một số nền kinh tế bắt đầu mở cửa trở lại. Tuy nhiên, vẫn còn những lo ngại xung quanh hiệu quả kinh tế chung trong quý II/2020.

Để hỗ trợ nền kinh tế khu vực, bên cạnh chương trình mua tài sản khẩn cấp, ECB còn triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động cho vay của các ngân hàng. Các giải pháp này được tiến hành đồng thời với những giải pháp mà ECB đã triển khai trước đại dịch để thúc đẩy lạm phát trong khu vực, bao gồm cả chương trình mua trái phiếu với quy mô hàng tháng 20 tỷ euro, một phần của gói nới lỏng định lượng được công bố vào năm 2019.

ECB cũng quyết định vào thứ Năm tuần trước rằng sẽ giữ nguyên các mức lãi suất chủ chốt của mình. Theo đó lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay cận biên và lãi suất tiền gửi cơ sở lần lượt là 0%, 0,25% và -0,50%.

Mai Ngọc

Nguồn:

Tags: ecb

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.850 23.050 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.830 23.050 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.020 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.850 23.065 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.835 23.050 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.850 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.880 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.500
57.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.500
57.200
Vàng SJC 5c
56.500
57.220
Vàng nhẫn 9999
50.950
51.650
Vàng nữ trang 9999
50.650
51.350