Fed: Kinh tế Mỹ còn 'xa' với kỳ vọng, hàm ý chính sách nới lỏng sẽ không sớm thay đổi

09:54 | 18/02/2021

Các thành viên của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang Mỹ (FOMC) tại cuộc họp gần đây nhất đã tái khẳng định rằng ngân hàng trung ương sẽ giữ chính sách nới lỏng trong thời gian tới, theo biên bản cuộc họp tháng Một được công bố hôm thứ Tư.

Với việc nền kinh tế vẫn đang tiếp tục vật lộn để vượt qua những ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, Ủy ban đã quyết định giữ nguyên chính sách tiền tệ hiện hành.

Điều đó có nghĩa là lãi suất cho vay ngắn hạn chuẩn của ngân hàng trung ương tiếp tục được duy trì gần bằng 0 và cơ quan này cũng giữ nguyên mức mua tài sản tối thiểu 120 tỷ đô la mỗi tháng của mình.

fed kinh te my con xa voi ky vong ham y chinh sach noi long se khong som thay doi

Sau một cuộc họp bàn về chương trình mua tài sản và chính sách lãi suất của Fed trong tháng Một, biên bản mới ban hành cho thấy rất ít cơ hội để sớm thay đổi các chính sách hiện nay.

“Các thành viên tham dự nhấn mạnh rằng tình hình kinh tế hiện nay vẫn còn cách xa so với các mục tiêu dài hạn của Ủy ban, và lập trường về chính sách sẽ cần được duy trì phù hợp cho đến khi các mục tiêu đó đạt được”, biên bản cuộc họp cho biết. “Do đó, tất cả các thành viên tham dự đều ủng hộ việc duy trì các chính sách hiện tại của Ủy ban về định hướng lãi suất quỹ liên bang và tốc độ mua tài sản”.

Trước thềm cuộc họp diễn ra từ ngày 26-27/1, các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm đến thời điểm FOMC có thể bắt đầu giảm tốc độ mua trái phiếu hoặc nới lỏng định lượng. Tuy nhiên, tuyên bố sau cuộc họp của Chủ tịch Fed đã không đề cập đến các cuộc thảo luận về chủ đề này, mà Jerome Powell chỉ cho biết ngân hàng trung ương có khả năng sẽ giữ chính sách phù hợp.

Các thành viên Ủy ban lưu ý rằng chương trình QE, vốn đã đưa bảng cân đối kế toán của Fed lên gần 7,5 nghìn tỷ đô la, "đã nới lỏng đáng kể các điều kiện tài chính và đang cung cấp hỗ trợ tích cực cho nền kinh tế".

Các cân nhắc được đưa ra trong bối cảnh các quan chức ngân hàng trung ương lo ngại về tốc độ chậm chạp trong phục hồi kinh tế, và đặc biệt là mục tiêu phục hồi thị trường lao động "rộng rãi và toàn diện".

Tuyên bố sau cuộc họp cũng chỉ lưu ý rằng tốc độ hoạt động kinh tế và những cải thiện trên thị trường lao động đã “hài hòa hơn trong những tháng gần đây”.

"Với nền kinh tế vẫn còn xa các mục tiêu đó, các thành viên tham dự đánh giá rằng có thể sẽ mất một thời gian để đạt được những tiến bộ đáng kể hơn nữa", biên bản cuộc họp cho biết.

Kể từ sau cuộc họp nói trên, các quan chức Fed hầu như nhất trí rằng họ không kỳ vọng sẽ có những thay đổi chính sách đáng kể cho đến khi đạt được nhiều tiến bộ hơn đối với các mục tiêu ngân hàng trung ương đưa ra đối với thị trường lao động. Powell và các đồng nghiệp của mình đã nhấn mạnh rằng họ sẽ không bắt đầu tăng lãi suất để tránh lạm phát, mà sẽ đợi áp lực giá thực tế xuất hiện trước khi thắt chặt chính sách.

“Về việc thu hẹp chương trình mua tài sản, thời điểm này là quá sớm. Chúng tôi cho rằng cần phải thấy những tiến bộ đáng kể hơn nữa đối với các mục tiêu của mình trước khi điều chỉnh hướng dẫn mua tài sản”, Powell nói tại cuộc họp báo sau cuộc họp tháng Một.

Biên bản ghi nhận rằng giá tài sản đang “tăng cao” và cho biết các lỗ hổng liên quan đến mức vay hộ gia đình và doanh nghiệp là “đáng chú ý”. Các quan chức Fed cũng cho biết một số thị trường tiền tệ và quỹ tương hỗ mở phải đối mặt với “những lỗ hổng đáng kể liên quan đến chuyển đổi thanh khoản”.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.915 23.125 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.925 23.125 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.896 23.136 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.880 23.090 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.920 23.110 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.940 23.120 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.936 23.148 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.928 23.128 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.930 23.110 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.940 23.100 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.470
55.890
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.470
55.870
Vàng SJC 5c
55.470
55.890
Vàng nhẫn 9999
52.900
53.500
Vàng nữ trang 9999
52.600
53.300