Fed sẽ làm gì tiếp theo để cứu kinh tế Mỹ

11:00 | 11/06/2020

Mặc dù Fed được kỳ vọng sẽ giữ nguyên lãi suất chính sách ở gần mức 0% như hiện tại, nhưng điều mà thị trường mong đợi là những dự báo mới nhất của Fed về triển vọng kinh tế và lãi suất, điều mà Fed đã trì hoãn đưa ra tại cuộc họp chính sách tháng 3 trong bối cảnh dịch bệnh đang lan rộng tại Mỹ.

Fed dự kiến giữ nguyên lãi suất gần 0 đến năm 2022, bất chấp GDP giảm mạnh
5 vấn đề kinh tế thế giới đáng chú ý tuần này
Quan ngại của Fed chuyển hướng sang sự ổn định tài chính

Hiện thị trường đang theo dõi sát cuộc họp chính sách của Ủy ban Thị trường mở Mỹ (FOMC) diễn ra trong hai ngày 9-10/6. Lý do là ngay trước cuộc họp này, Cục Nghiên cứu kinh tế quốc gia công bố một báo cáo cho thấy, nền kinh tế lớn nhất thế giới chấm dứt thời kỳ tăng trưởng kéo dài nhất trong lịch sử và đã rơi vào suy thoái. GDP của Mỹ đã giảm 5% trong quý đầu tiên và có khả năng tiếp tục sụt giảm tới hơn 50% trong quý thứ hai - mức giảm tồi tệ nhất trong lịch sử.

Mặc dù Fed được kỳ vọng sẽ giữ nguyên lãi suất chính sách ở gần mức 0% như hiện tại, nhưng điều mà thị trường mong đợi là những dự báo mới nhất của Fed về triển vọng kinh tế và lãi suất, điều mà Fed đã trì hoãn đưa ra tại cuộc họp chính sách tháng 3 trong bối cảnh dịch bệnh đang lan rộng tại Mỹ.

Ảnh minh họa

“Tôi nghĩ rằng Fed sẽ tiếp tục nghiêng về phía nới lỏng. Không đời nào Fed báo hiệu chấm dứt điều đó và bằng mọi cách họ sẽ không báo hiệu sự miễn cưỡng trở thành “đối tác ngầm” với Bộ Tài chính Mỹ trong việc hỗ trợ hoạt động của các thị trường, bao gồm cả thị trường trái phiếu Kho bạc”, Tony Crescenzi - Phó chủ tịch và thành viên của Ủy ban đầu tư của Pimco nói.

Jon Hill - Chiến lược gia thu nhập cố định cao cấp tại BMO cho biết, những dự báo của Fed sẽ là nhân tố chính tác động tới các thị trường trong ngắn hạn. Điều quan trọng là phải xem Fed nhận định tỷ lệ thất nghiệp giảm nhanh như thế nào từ mức 13,3%. “Làm thế nào để tỷ lệ thất nghiệp nhanh chóng quay lại mức 5%? Nó có phải là một vài tháng, vài quý hoặc một vài năm?”, Hill nói.

Về lãi suất, Fed cung cấp hướng dẫn của mình thông qua cái gọi là biểu đồ dấu chấm (dot plot). “Sẽ rất thú vị khi theo dõi các dấu chấm. Tôi không nghĩ rằng bạn sẽ thấy một dấu chấm âm, nhưng điều đó có thể xảy ra”, Rick Rieder – Trưởng bộ phận đầu tư thu nhập cố định toàn cầu của BlackRock nói. “Powell và các quan chức khác của Fed đã nói rằng họ chống lại lãi suất âm”.

Trước đó, Fed đã tuyên bố thay đổi các điều khoản của Chương trình cho vay Main Street như mở rộng quy mô và kéo dài thời gian với mục tiêu hỗ trợ nhiều hơn cho doanh nghiệp. Theo hướng dẫn mới, khoản vay tối thiểu bây giờ sẽ là 250.000 USD, chỉ bằng một nửa so với dự kiến ban đầu. Mức tối đa hiện cũng được nâng lên tới 300 triệu USD, thay vì mức 200 triệu USD trước đây.

Chủ tịch Fed Jerome Powell mới đây cho biết chương trình này đã khác xa so với kế hoạch ban đầu và Fed đã sửa đổi các điều khoản dựa trên phản hồi nhận được từ hàng ngàn nguồn. “Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ để họ sẵn sàng mở cửa trở lại và tái thuê mướn lao động sẽ giúp thúc đẩy sự phục hồi kinh tế trên diện rộng”, Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết trong thông báo phát đi hôm đầu tuần. “Tôi tin chắc rằng những thay đổi mà chúng tôi đang thực hiện sẽ cải thiện khả năng của Chương trình cho vay Main Street để hỗ trợ việc làm trong giai đoạn khó khăn này”.

Ngoài những thay đổi về quy mô cho vay, Fed cũng đã kéo dài thời gian trả nợ từ 4 năm lên 5 năm và tăng thời gian ân hạn lên hai năm thay vì một năm như thiết kế ban đầu. Thời gian trả lãi cũng được ân hạn một năm và sẽ là lãi suất Libor, lãi suất cho vay qua đêm thường được sử dụng, cộng với 3%.

Chương trình này là một phần của gần một chục biện pháp mà Fed đã triển khai trong thời gian gần đây để bơm thanh khoản cho nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp ứng phó với cuộc khủng hoảng do coronavirus gây ra. Theo đó, Fed đã hai lần cắt giảm mạnh lãi suất mà không đợi tới cuộc họp chính sách hàng tháng, đưa lãi suất cho vay qua đêm tại Mỹ về còn 0-0,25% như hiện tại. Cơ quan này cũng tái khởi động lại chương trình mua tài sản và mở rộng danh mục mua vào, bao gồm cả trái phiếu của doanh nghiệp. Chưa dừng lại ở đó, Fed còn thiết kế Chương trình cho vay Main Street để trực tiếp bơm thanh khoản cho các doanh nghiệp.

Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, Fed sẽ làm gì tiếp theo đang là vấn đề mà các thị trường quan tâm.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.076 23.266 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.074 23..284 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.067 23.267 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.620
51.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.620
51.470
Vàng SJC 5c
47.620
51.490
Vàng nhẫn 9999
47.470
51.270
Vàng nữ trang 9999
47.170
50.970