Gắn kết, chủ động thích ứng

08:09 | 24/01/2020

Bất chấp những diễn biến phức tạp của kinh tế và thị trường tài chính thế giới, ngành Ngân hàng vẫn thể hiện bản lĩnh, sẵn sàng ứng phó, cùng nhau vượt khó khăn để tiếp tục đóng góp vào thành quả phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước trong năm qua: tăng trưởng kinh tế Việt Nam vượt mục tiêu đề ra, đạt 7,02%; lạm phát được kiểm soát ở mức 2,79%; năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục được củng cố, lãi suất và tỷ giá phù hợp với các cân đối vĩ mô, thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định…

Tiếp tục đóng góp cho sự thịnh vượng của đất nước
Những cơ hội và hy vọng mới
Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng

Trả lời phỏng vấn Thời báo Ngân hàng, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho rằng, năm 2020 có nhiều thuận lợi nhưng cũng có không ít những thách thức, bởi vậy trong điều hành, không thể chủ quan. Tuy nhiên, với những thành tựu đã đạt được, ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục nỗ lực cùng các bộ, ngành hoàn thành các mục tiêu Quốc hội, Chính phủ đặt ra. 

Thưa Phó Thống đốc, năm 2019 đã qua với rất nhiều quyết sách quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ (CSTT). Cảm nhận của Phó Thống đốc thế nào về một năm bận rộn vừa qua?

Ngay từ đầu năm 2019, tại Chỉ thị 01/CT-NHNN Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng đã yêu cầu các đơn vị trong toàn Ngành bám sát phương châm hành động của Chính phủ năm 2019 “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”, tập trung triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm của Ngành với mục tiêu hàng đầu là điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu năm 2019 bình quân dưới 4%; GDP tăng 6,8%; duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối. Năm 2019, định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 13%; tín dụng tăng khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế...

Để thực hiện được các mục tiêu trên trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp, khó lường, các yêu cầu nhiệm vụ đặt ra với ngành Ngân hàng rất nặng nề. 

Có thể thấy năm qua NHNN tiếp tục chủ động, linh hoạt trong điều hành CSTT phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ, góp phần quan trọng vào việc kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; giữ ổn định mặt bằng lãi suất trong nước, đặc biệt là lãi suất cho vay lĩnh vực ưu tiên tiếp tục giảm; duy trì thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định, dự trữ ngoại hối nhà nước tăng cao, niềm tin vào VND được củng cố; tăng trưởng tín dụng gắn với chất lượng và hiệu quả, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là lĩnh vực là động lực cho tăng trưởng.

Các TCTD luôn chú trọng nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên; tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp và người dân; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Công tác cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu tiếp tục được ngành Ngân hàng triển khai mạnh mẽ, đạt được kết quả quan trọng, giữ vững sự ổn định, an toàn hệ thống, quy mô và kết quả hoạt động tiếp tục được nâng cao. Năng lực quản trị điều hành của các NHTM từng bước tiệm cận với thông lệ quốc tế; Tính minh bạch và chất lượng dịch vụ ngân hàng từng bước được cải thiện; Hoạt động thanh toán tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ với nhiều sản phẩm, tiện ích ngân hàng mới, hiện đại... 

Với quyết tâm cao, thực hiện đồng bộ các giải pháp, chúng ta đã hoàn thành các nhiệm vụ Quốc hội, Chính phủ đề ra, đặc biệt là tiếp tục duy trì việc kiểm soát lạm phát và neo giữ kỳ vọng lạm phát ở mức thấp, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế vượt mức Quốc hội đặt ra. Đây là điểm rất quan trọng, tạo lập, tăng niềm tin của thị trường và các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài về sự kiên định, nhất quán của Chính phủ và NHTW trong ổn định kinh tế vĩ mô.

Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đã đánh giá rất tích cực: Fitch nâng triển vọng của Việt Nam từ mức Ổn định sang Tích cực và tiếp tục duy trì mức xếp hạng BB (tháng 5/2019); S&P lần đầu tiên sau 9 năm đã điều chỉnh nâng xếp hạng tín nhiệm Việt Nam từ BB- lên BB (tháng 4/2019). Theo báo cáo mới đây của U.S. News & World Report, Việt Nam đã tăng từ vị trí 23 năm 2018 lên vị trí thứ 8 năm 2019 trong bảng xếp hạng các nền kinh tế tốt nhất thế giới để đầu tư.

Bên cạnh đó, các chỉ tiêu về lạm phát, thâm hụt ngân sách hay quy mô dự trữ ngoại hối đều được cải thiện, giúp tăng cường sức chống chịu với những cú sốc có thể diễn ra trong tương lai. 

Năm 2019 NHNN đã ban hành nhiều quyết định điều chỉnh lãi suất. Vì sao NHNN  có những quyết định này, thưa Phó Thống đốc? 

Để đạt được mục tiêu CSTT, trong điều hành, điều quan trọng nhất là phải bám sát vào thực tiễn, bám sát vào diễn biến kinh tế thế giới và trong nước, thực tiễn thị trường để quyết định sử dụng công cụ nào, giải pháp nào với liều lượng và thời điểm hợp lý. Trong năm 2019 khi NHTW các nước trên thế giới gia tăng nới lỏng CSTT, trong nước kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, khả năng kiểm soát được lạm phát ở mức thấp hơn 4%, NHNN đã quyết định điều chỉnh giảm 0,25%/năm các mức lãi suất điều hành để tiếp tục tạo điều kiện hỗ trợ nền kinh tế và thanh khoản của hệ thống TCTD.

Tháng 11/2019, NHNN điều chỉnh giảm lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các nhu cầu vốn phục vụ nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao giảm từ 6,5%/năm xuống 6%/năm; Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô đối với các nhu cầu vốn này giảm từ 7,5%/năm xuống 7%/năm.

Bên cạnh đó, NHNN cũng hạ trần lãi suất huy động tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 1%/năm xuống 0,8%/năm; Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng giảm từ 5,5%/năm xuống 5%/năm; Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng tại quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô giảm từ 6%/năm xuống 5,5%/năm. Ngoài ra, lãi suất đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND cũng được cân nhắc, điều chỉnh hợp lý. 

Trước xu thế chính sách này, các TCTD không chỉ giảm lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên mà còn mở rộng giảm cho nhiều đối tượng khách hàng khác. Trong năm 2019 các TCTD đã có ba đợt đồng loạt hạ lãi suất cho vay (lần đầu tháng 1/2019, lần thứ hai tháng 8/2019 và lần ba là từ ngày 19/11). Hiện lãi suất huy động bằng VND phổ biến ở mức 0,2-0,8%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,3-5,0%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,5-7%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 6,6-7,5%/năm. Mặt bằng lãi suất cho vay VND phổ biến ở mức 6,0-9,0%/năm đối với ngắn hạn; 9,0-11%/năm đối với trung và dài hạn.

Theo đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân, “điều hành chính sách của NHNN thời gian qua rất toàn diện ở mọi khâu từ điều hành lãi suất, ngoại hối, tỷ giá, tín dụng đến thanh toán, đảm bảo an ninh tiền tệ... Nhưng tôi đánh giá cao nhất là nỗ lực của NHNN trong điều hành tỷ giá”. Phó Thống đốc nghĩ sao về nhận định này?

Đúng là điều hành tỷ giá bao giờ cũng là một nhiệm vụ rất khó khăn của một NHTW, và càng khó khăn hơn khi nền kinh tế của chúng ta có độ mở lớn hơn nhiều so với các nước trên thế giới và khu vực, thực tiễn tình trạng đôla hóa đặt ra nhiều áp lực đối với điều hành vì thị trường thường xuyên chịu tác động của yếu tố kỳ vọng. 

Nhưng nhìn lại năm 2019 thì thấy chúng ta đã thành công trong điều hành tỷ giá. Mặc dù có nhiều áp lực từ những diễn biến trên thị trường quốc tế (diễn biến đồng CNY giảm giá mạnh, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, Fed liên tục điều chỉnh lãi suất…), thị trường ngoại tệ vẫn duy trì hoạt động ổn định.

Tỷ giá trong nước tương đối ổn định, diễn biến linh hoạt phù hợp với sự thay đổi của điều kiện thị trường trong nước, quốc tế và mục tiêu điều hành CSTT. Thanh khoản thị trường được đảm bảo, các giao dịch ngoại tệ diễn ra thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ, kịp thời; thị trường ngoại tệ tự do đang ngày càng thu hẹp và bám sát tỷ giá liên ngân hàng. Đặc biệt, NHNN mua được lượng lớn ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước. 

Kết quả này có được là nhờ sự chủ động, linh hoạt, đặc biệt là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa điều hành tỷ giá và các công cụ khác như lãi suất, điều tiết tốt thanh khoản, thực hiện truyền thông…

Tương ứng với lượng ngoại tệ mua được cho dự trữ ngoại hối Nhà nước, NHNN đã cung ứng một lượng lớn tiền đồng đưa vào lưu thông, bổ sung thanh khoản VND cho toàn hệ thống, nhưng lại hút tiền về phù hợp để đảm bảo kiểm soát khối lượng tiền tệ hợp lý, đảm bảo được mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Kết quả, đến ngày 31/12/2019, tỷ giá trung tâm chỉ tăng khoảng 1,5% và tỷ giá liên ngân hàng và tỷ giá giao dịch của NHTM trên thị trường về cơ bản ở mức tương đương cuối năm ngoái hoặc giảm chút ít. Nếu so với nhiều đồng tiền mới nổi mất giá mạnh, tác động tiêu cực lên kinh tế vĩ mô các nước thì mức tăng tỷ giá VND/USD vẫn phù hợp, tiếp tục duy trì lòng tin đối với VND, giảm đôla hóa nền kinh tế.

Năm 2019 tín dụng chỉ tăng trên 13% - khá thấp so với những năm trước, nhưng GDP tăng 7,02%. Phó Thống đốc có thể lý giải điều này?

Mức tăng trưởng tín dụng của năm 2019 cũng gần mức tăng của năm 2018 và cũng rất sát với định hướng khoảng 14% đề ra từ đầu năm. Kết quả này cũng phản ánh sự điều hành rất linh hoạt của NHNN, đầu năm định hướng chỉ tiêu, thông báo mức tăng trưởng cho các TCTD, theo dõi sát tình hình để điều chỉnh phù hợp với chỉ tiêu chung và khả năng của từng TCTD với nguyên tắc vừa kiểm soát được chỉ tiêu toàn hệ thống nhưng đảm bảo an toàn hệ thống. Cơ cấu tín dụng tiếp tục có sự điều chỉnh tích cực, tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên; tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro được kiểm soát chặt chẽ. Tín dụng ngoại tệ được kiểm soát phù hợp với lộ trình hạn chế đôla hóa trong nền kinh tế. 

Trong chỉ đạo điều hành, NHNN luôn quán triệt phương châm mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hiệu quả, bởi vậy trên cơ sở theo dõi, giám sát hoạt động, NHNN có nhiều văn bản cảnh báo, yêu cầu các TCTD nâng cao chất lượng tín dụng kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán…; Tăng cường quản lý rủi ro đối với các dự án BOT, BT giao thông. 

Song song với các giải pháp điều hành nêu trên, NHNN cũng chú trọng việc chỉ đạo các NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố đã tổ chức nhiều hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp; Hội nghị triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng để trực tiếp giải quyết những khó khăn vướng mắc về tín dụng, lãi suất cũng như triển khai các cơ chế chính sách tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên: nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, DNNVV và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ đều chiếm khá cao trong tổng tín dụng chung cho nền kinh tế. Đặc biệt, việc các TCTD nhiều lần cắt giảm lãi suất cho vay đã tạo điều kiện rất lớn cho khách hàng mở rộng sản xuất kinh doanh, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Trong bối cảnh thị trường thế giới có diễn biến phức tạp, việc nâng cao sức đề kháng rất quan trọng. Xin Phó Thống đốc cho biết ngành Ngân hàng có giải pháp gì cho vấn đề này? 

Cảm ơn một câu hỏi rất hay của phóng viên. Những năm gần đây thị trường thế giới luôn có những diễn biến khó lường, do đó việc đẩy mạnh tái cơ cấu TCTD, xử lý nợ xấu, nâng cao năng lực cạnh tranh là đòi hỏi tất yếu. Chính vì vậy, năm 2019, NHNN đã tập trung chỉ đạo hệ thống thực hiện tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu theo đúng định hướng và kế hoạch triển khai Đề án cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 1058.

Về cơ bản đến nay tất cả các TCTD đã được NHNN phê duyệt Đề án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu đúng tinh thần Quyết định 1058 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết 42 của Quốc hội. Chất lượng hoạt động, công tác quản trị điều hành của TCTD được củng cố và hoàn thiện từng bước. Công tác cơ cấu lại các TCTD đã đạt được những kết quả quan trọng theo đúng mục tiêu, lộ trình đề ra. Năng lực tài chính của các TCTD tiếp tục được củng cố, vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống tăng dần qua các năm và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) ở mức 11,9%.

Vấn đề tăng vốn cho các NHTM, nhất là các NHTM do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ cũng được NHNN chú trọng, đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền xử lý. Và đặc biệt, để tăng cường quản trị hoạt động ngân hàng, NHNN đã ban hành Thông tư 41/2016/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 1/1/2020 các TCTD sẽ phải đáp ứng hàng loạt quy định mới về tỷ lệ an toàn vốn tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là phải đáp ứng được theo chuẩn Basel II. 

Dự báo năm 2020 kinh tế thế giới sẽ gặp nhiều khó khăn, Phó Thống đốc có thể cho biết điều hành CSTT của NHNN trong bối cảnh này? 

Theo Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 6,8%; Tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân (CPI) dưới 4%. Năm 2020 là năm cuối cùng trong thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020. Do đó việc hoàn thành các nhiệm vụ được Quốc hội, Chính phủ giao cho các bộ, ngành nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng rất quan trọng. 

Năm 2020 NHNN sẽ tiếp tục kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng. Các giải pháp điều hành tập trung chủ yếu vào các trọng tâm: 

Thứ nhất, tiếp tục tập trung hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế chính sách về tiền tệ và hoạt động ngân hàng như: hoàn thiện chính sách về thanh tra, giám sát tiệm cận với thông lệ quốc tế; Rà soát sửa đổi các quy định về quản lý ngoại hối, hoạt động thanh toán... nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, đảm bảo ổn định, an toàn hoạt động của các TCTD.

Thứ hai, điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu năm 2020, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối. Tiếp tục kiểm soát chặt tốc độ tăng trưởng tín dụng của TCTD, đặc biệt tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro. 

Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh triển khai quyết liệt Đề án cơ cấu các TCTD gắn với xử lý nợ xấu; Tiếp tục đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, tạo điều kiện để triển khai các sản phẩm, dịch vụ thanh toán mới, hiện đại; Tăng cường an ninh, an toàn trong thanh toán điện tử; hoàn thiện khuôn khổ pháp lý quản lý tốt hơn hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán; đảm bảo chặt chẽ vấn đề an ninh, an toàn cho các giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt. 

Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong các lĩnh vực hoạt động ngân hàng nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong các giao dịch hành chính với NHNN và giao dịch với TCTD, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy doanh nghiệp nói chung và TCTD nói riêng phát triển bền vững...

Thứ năm, Việt Nam đang thực hiện nhiều chính sách hội nhập sâu rộng thông qua hàng loạt hiệp định thương mại tự do lớn như CPTPP, EVFTA hay AEC. Do đó cần tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động hợp tác, giao lưu quốc tế, tham gia tích cực các hoạt động của cộng đồng các tổ chức tài chính quốc tế và NHTW các nước... góp phần tích cực để Việt Nam làm tốt vai trò Chủ tịch ASEAN với chủ đề "Gắn kết và Chủ động thích ứng". 

Với nền tảng vững chắc là những kết quả đã đạt trong nhiều năm qua, bằng tinh thần đoàn kết, quyết tâm phấn đấu, nỗ lực của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, tôi tin tưởng ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ được giao... 

Trân trọng cảm ơn Phó Thống đốc!

Kiều Vân thực hiện

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.300
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.300
48.200
Vàng SJC 5c
47.300
48.220
Vàng nhẫn 9999
47.000
48.000
Vàng nữ trang 9999
46.700
48.000