Giá căn hộ phân khúc hạng C ngày càng tăng

16:27 | 09/04/2021

Báo cáo thị trường bất động sản TP.HCM và vùng phụ cận quý I/2021, ông Nguyễn Hoàng, Giám đốc R&D Công ty Cổ phần DKRA Việt Nam (DKRA) nhận định giá căn hộ phân khúc hạng C ngày càng tăng. Hầu như gần đây không còn dự án bình dân giá 20 - 25 triệu đồng/m2 (được xếp hạng C), mà hiện phân khúc này đã lên đến trên 30 triệu đồng/m2 chưa tính thuế VAT.

Theo DKRA, thị trường căn hộ hiện nguồn cung và lượng tiêu thụ giảm gần một nửa so với quý trước. Căn hộ hạng A vẫn là phân khúc chủ đạo của thị trường, đồng thời căn hộ hạng sang có sự gia tăng đáng kể. Thị trường tiếp tục vắng bóng căn hộ hạng C. Nguồn cung mới chủ yếu tập trung ở Khu Đông TP.HCM với giá bán tăng mạnh khi TP.Thủ Đức chính thức được thành lập. Nhiều dự án tăng giá chạm ngưỡng căn hộ hạng sang.

gia can ho phan khuc hang c ngay cang tang
Ông Võ Hồng Thắng, Trưởng phòng R&D DKRA Việt Nam

Thị trường bất động sản căn hộ tại TP.HCM và 4 tỉnh giáp ranh (Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An) trong quý I/2021 đón nhận khoảng 13 dự án mở bán (6 dự án mới và 7 giai đoạn/đợt mở bán tiếp theo của dự án đã mở bán trước đó). Nguồn cung mới đưa ra thị trường ước đạt khoảng 5,515 căn, bằng 51% so với quý IV/2020 (10,814 căn). Lượng tiêu thụ đạt khoảng 4,416 căn, chiếm xấp xỉ 80% tổng nguồn cung dự án mở bán mới, bằng 53% so với quý trước (8,371 căn).

DKRA cũng nhận định thị trường đất nền dự án tại TP. HCM tiếp tục không ghi nhận nguồn cung mới mở bán trong quý I/2021, giao dịch trên thị trường hiện tại chủ yếu tập trung ở nguồn hàng tồn kho các dự án mở bán những năm trước hoặc dự án đất dân hộ lẻ, quy mô nhỏ, do cá nhân tự đứng ra phân lô tách thửa để bán. Sức cầu chung toàn thị trường ở mức trung bình không có nhiều biến động so với giai đoạn cuối năm 2020. Giá đất cục bộ tăng ở một số huyện vùng ven có thông tin quy hoạch hoặc sớm nâng cấp lên quận, phổ biến tăng 3-5% so với thời điểm trước Tết, tuy nhiên thanh khoản thị trường chỉ ở mức trung bình và không xảy ra tình trạng "sốt đất giá ảo" thường thấy ở những năm trước.

Ông Võ Hồng Thắng, Trưởng phòng R&D DKRA Việt Nam cho biết, đất nền là phân khúc có nhiều sóng gió trong thời gian qua do sụt giảm nguồn cung chỉ bằng 96% so với quý IV/2020 nhưng sức hấp thụ lại tăng lên đến 37%. Sức mua của nhà đầu tư chủ yếu tập trung chủ yếu ở Long An khi lượng giao dịch thành công lên tới 65% nguồn cung toàn thị trường, những khu vực khác như Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương có lượng giao dịch thấp hơn. Khi quỹ đất sạch tại TP.HCM ngày càng khan hiếm, thị trường đất nền vùng ven tiếp tục giữ vị thế chủ lực, mặt bằng giá tăng cục bộ theo thông tin quy hoạch và nâng cấp lên quận ở những huyện vùng ven.

“Trong 10 năm qua, thị trường bất động sản Việt Nam dù có nhiều biến động nhưng vẫn phát triển mạnh mẽ ở mọi khía cạnh với sự tham gia của nhiều chủ đầu tư trong và ngoài nước. Bên cạnh các chủ đầu tư nước ngoài quen thuộc, những thương hiệu chủ đầu tư “nội địa” bắt đầu lớn mạnh không ngừng, trưởng thành chuyên nghiệp và thể hiện sự vượt trội. Họ đã tạo ra nhiều thay đổi cũng như những xu hướng mới, dẫn dắt sự phát triển của thị trường. Không chỉ dừng lại ở việc tạo ra sản phẩm mới hoặc xu hướng sống mới, một ít chủ đầu tư lớn còn xây dựng nên một hệ sinh thái liên kết, bổ trợ giá trị cho nhau. Được đầu tư và phát triển bài bản, các dự án do chủ đầu tư trong nước đạt tỷ lệ lấp đầy dân cư về sinh sống nhanh nhất, làm cho giá trị bất động sản tăng nhanh. Trong bối cảnh thị trường bất động sản hiện nay còn nhiều phức tạp, sự xuất hiện của các chủ đầu tư “đầu đàn” trong nước là điều cần thiết để góp phần chuyển biến thị trường ngày càng chuyên nghiệp, diện mạo đô thị thêm phát triển hiện đại. Quyền lợi của người mua cũng được đảm bảo tốt hơn với những sản phẩm có giá trị hơn”, lãnh đạo DKRA khẳng định.

Minh Lâm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.637 22.857 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.655 22.867 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.643 22.853 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.150
57.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.150
57.850
Vàng SJC 5c
57.150
57.870
Vàng nhẫn 9999
50.800
51.500
Vàng nữ trang 9999
50.400
51.200