Giá chung cư Hà Nội tăng cao nhất trong vòng 5 năm qua

09:33 | 17/01/2022

Covid-19 khiến doanh số bán cả năm 2021 đạt gần 17.000 căn, giảm 9% theo năm. Tuy nhiên, giá chung cư tại Hà Nội lại tăng 13% theo năm - mức tăng theo năm cao nhất trong vòng 5 năm qua.

CBRE Việt Nam cho biết, trong năm 2021, có khoảng 17.000 căn hộ mở bán tại Hà Nội, giảm 7% theo năm. Đây là năm thứ hai liên tiếp thành phố ghi nhận nguồn cung mở bán mới giảm dưới tác động của dịch Covid-19.

Theo phân khúc, căn hộ trung cấp vẫn là sản phẩm phổ biến nhất trên thị trường, chiếm 72% tổng nguồn cung mới trong năm. Trong khi đó, phân khúc cao cấp đứng thứ hai, chiếm tỷ trọng gần một phần tư tổng nguồn cung mở bán mới, cũng là tỷ trọng cao nhất của phân khúc này trong vòng 3 năm qua.

Đáng chú ý, Hà Nội chứng kiến sự ra mắt của dự án căn hộ siêu sang đầu tiên, nằm tại khu vực trung tâm, có mức giá cao nhất từ trước tới nay ghi nhận tại thành phố.

gia chung cu ha noi tang cao nhat trong vong 5 nam qua

Về vị trí, khu vực phía Đông năm thứ hai liên tiếp là khu vực tập trung nguồn cung mới lớn nhất do ghi nhận dự án mở bán mới đến từ các khu đô thị lớn như Vinhomes Ocean Park và Ecopark. Khu vực này chiếm gần một nửa nguồn cung mới mở bán trong năm, theo sau là khu Tây (35%) và khu Nam (15%).

Sau 1 năm không có nguồn cung mới, khu Trung tâm và Đống Đa, Ba Đình ghi nhận 3 dự án mở bán mới, báo hiệu sự phát triển mạnh mẽ hơn của các phân khúc cao cấp tại thị trường Hà Nội.

Với việc hoạt động bán hàng bị gián đoạn trước làn sóng Covid-19 từ cuối tháng 7 đến cuối tháng 9, cũng như các hạn chế về tổ chức sự kiện trong suốt năm qua, doanh số bán cả năm 2021 đạt gần 17.000 căn, giảm 9% theo năm nhưng cao hơn so với tổng lượng mở bán mới. Mặc dù vậy, một điểm tích cực là các dự án mở bán trong năm 2021 đạt tỷ lệ bán trung bình 47% trong quý đầu tiên mở bán, cao hơn tỷ lệ của năm 2019 và 2020 (41% và 42%).

Đặc biệt, tính tới cuối năm 2021, giá bán sơ cấp trung bình tại thị trường Hà Nội đạt 1.596 USD/m2 (chưa bao gồm VAT và phí bảo trì), tăng 13% theo năm - mức tăng theo năm cao nhất trong vòng 5 năm qua.

Sự tăng trưởng của mặt bằng giá bán sơ cấp chủ yếu đến từ việc mở bán của các dự án nằm tại vị trí đắc địa tại khu Trung tâm, khu Đống Đa, Ba Đình và việc nâng cấp định vị của các dự án khu đô thị vẫn đang diễn ra trong vài năm trở lại đây.

Trên thị trường thứ cấp, giá bán trung bình đạt 1.213 USD/m2 tính tới cuối năm 2021, tăng 4% theo năm. Các vị trí có ít nguồn cung mới trong vòng 2 năm trở lại đây như quận Tây Hồ, Cầu Giấy và Đống Đa là các khu vực có giá bán tăng cao hơn mức trung bình thị trường trong năm (ở ngưỡng trên 6%).

Trong năm 2022, nguồn cung chào bán mới dự kiến sẽ tăng trưởng trở lại, đạt ngưỡng 26.000 - 28.000 căn. Doanh số bán hàng dự kiến sẽ hồi phục trong năm khi các hoạt động bán hàng dần trở lại bình thường. Mức giá sơ cấp được dự báo tăng khoảng 5-7%/năm trong vòng 3 năm tới, do sản phẩm của các khu đô thị tiếp tục nâng cấp định vị cũng như kì vọng các dự án cao cấp và hạng sang mở bán ở một số vị trí đắc địa, trung tâm.

Bà Nguyễn Hoài An, Giám đốc CBRE Việt Nam Chi nhánh Hà Nội cho rằng: “Trong vòng vài năm trở lại đây, các dự án nằm ở các khu vực nhà ở mới ghi nhận doanh số bán hàng tích cực nhờ tập trung vào khác biệt hóa sản phẩm, tích hợp nhiều tiện nghi, cũng như các hoạt động marketing và bán hàng. Xu hướng này dự kiến sẽ tiếp diễn trong các năm tới khi quỹ đất tại các quận nội thành hiện tại ngày càng trở nên hạn chế”.

Đối với bất động sản công nghiệp Việt Nam, trong năm 2021, các khu công nghiệp Việt Nam chịu thử thách với hai đợt dịch Covid-19 bùng phát tại các trung tâm sản xuất của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam.

Chuỗi cung ứng tạm thời bị gián đoạn trong quý III/2021 do các quy định hạn chế để phòng chống dịch tại nhiều tỉnh thành trên cả nước. Tuy nhiên với sự hỗ trợ mạnh mẽ và quyết liệt của Chính phủ, thị trường  đã duy trì và phục hồi nhanh chóng khi các biện pháp được nới lỏng trong quý IV/2021.

Báo cáo của CBRE Việt Nam cho thấy, trong quý IV/2021, tỷ lệ lấp đầy trung bình tại các khu công nghiệp tại 5 tỉnh và thành phố công nghiệp trọng điểm tại miền Bắc (Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương và Hải Phòng) đạt 79,3%, tăng 3,6 điểm phần trăm theo năm. Tương tự, tỷ lệ lấp đầy tại 4 tỉnh và thành phố công nghiệp chính tại miền Nam đạt 87,3%, tăng 0,11 điểm phần trăm theo năm.

Xét về quy mô giao dịch trong năm 2021, các giao dịch thuê đất có quy mô giao động từ 3-40 ha trong đó quy mô phổ biến là 3-5 ha. Các giao dịch đất công nghiệp quy mô lớn hơn từ 20-40 ha với nhu cầu chính đến từ nhóm ngành kho vận (logistics), điện tử và sản xuất đồ chơi.

Theo ngành nghề, nhóm ngành kho vận và điện tử đang rất sôi động với các hoạt động thuê đất công nghiệp và kho/xưởng hiện hữu để sử dụng tại cả miền Bắc và miền Nam. Ngoài ra, các nhóm ngành như đóng gói, sản xuất năng lượng mặt trời tại miền Bắc, nội thất và thiết bị y tế tại miền Nam đang nổi lên với nhiều giao dịch thành công trong năm.

Nhờ vào tỷ lệ lấp đầy khả quan, bất chấp đại dịch, giá thuê đất trung bình vẫn giữ ổn định tại các thành phố công nghiệp chính. Đặc biệt, tại các thành phố/tỉnh công nghiệp có thời gian di chuyển trong vòng một tiếng đồng hồ từ trung tâm TP.HCM và Hà Nội có mức tăng giá cao từ 15-32% so với cùng kỳ năm trước.

Giá chào thuê kho/xưởng xây sẵn duy trì ổn định tại các thị trường. Trong đó, tại các thị trường có nhiều sản phẩm mới theo tiêu chuẩn hiện đại ghi nhận mức tăng từ 5% đến 17% so với cùng kỳ năm trước.

CBRE Việt Nam dự báo, trong năm 2022 và 2023, nguồn cung đất công nghiệp sẽ tăng thêm hơn 7.000 ha cho cả hai thị trường. Trong đó, các tỉnh công nghiệp cấp 2 sẽ lần lượt chiếm khoảng 20% đến 30% nguồn cung miền Nam và miền Bắc.

Các tỉnh công nghiệp cấp 2 tại miền Bắc, đặc biệt là Quảng Ninh, đang phát triển nhanh chóng nhờ hạ tầng giao thông được cải thiện mạnh mẽ. Với lượng lớn nguồn cung mới trong 2 năm tiếp theo, mức giá thuê đất công nghiệp sẽ có mức tăng ổn định là khoảng 4% mỗi năm sau thời gian tăng trưởng mạnh trong năm 2019 và 2020.

Hải Yến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.230 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.955 23.235 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.935 23.235 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.935 23.230 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.980 23.190 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.970 23.190 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.952 23.352 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.952 23.238 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.970 23.250 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.000 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.500
69.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.500
69.500
Vàng SJC 5c
68.500
69.520
Vàng nhẫn 9999
54.200
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.900
54.700