Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam: Kinh tế tỏa sáng và động lực để tiếp tục

11:34 | 02/01/2020

Năm 2020 sẽ là năm mà kinh tế Việt Nam tiếp tục tỏa sáng, nhưng sẽ có nhiều thách thức từ bên ngoài dội tới. Ông Eric Sidgwick - Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhận định trong cuộc trao đổi với phóng viên Thời báo Ngân hàng.

giam doc quoc gia adb tai viet nam kinh te toa sang va dong luc de tiep tuc Thành công của năm 2019 là nhờ nội lực chứ không phải may rủi
giam doc quoc gia adb tai viet nam kinh te toa sang va dong luc de tiep tuc Kinh tế năm 2020: Giữ đà bứt phá để về đích thành công
giam doc quoc gia adb tai viet nam kinh te toa sang va dong luc de tiep tuc
Ông Eric Sidgwick - Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)

Ông nhìn nhận thế nào về kinh tế Việt Nam trong năm 2019 cũng như  triển vọng 2020? Theo ông đâu là những động lực của nền kinh tế Việt Nam cho thời gian tới?

Tiếp đà từ năm 2018, Việt Nam đã có một năm 2019 bứt phá tốt với thành quả phát triển kinh tế đầy ấn tượng khi mà tăng trưởng cao vượt kế hoạch đã đề ra và Việt Nam thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao hàng đầu khu vực và thế giới. Trong khi đó, lạm phát thấp hơn mục tiêu. Đặc biệt Việt Nam liên tục xuất siêu năm thứ tư liên tiếp; trong khi vốn FDI và số doanh nghiệp mới thành lập lại đạt kỷ lục mới. 

Chúng tôi tin rằng đà này sẽ tiếp tục trong cả năm 2020. Việt Nam tiếp tục chứng tỏ tiềm năng mạnh mẽ trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trong bối cảnh quản lý tài khóa thận trọng, lạm phát ổn định, cán cân vãng lai lành mạnh, và dòng FDI đang gia tăng. Vì lẽ đó, ADB đã điều chỉnh dự báo tăng trưởng của Việt Nam tăng từ mức 6,7% lên 6,8% trong năm 2020. Trong đó, tiêu dùng nội địa, đầu tư tư nhân được cải thiện và luồng vốn đầu tư FDI gia tăng vẫn sẽ là những động lực chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.  

Trong ngắn hạn và trung hạn, sản xuất chế biến - chế tạo, nông nghiệp và dịch vụ sẽ tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. FDI cũng sẽ tiếp tục là một nguồn chính cho tăng trưởng trong trung hạn, được hỗ trợ bởi tiêu dùng trong nước ổn định.

Tuy nhiên, về lâu dài thì điều quan trọng là đảm bảo tính bền vững của phát triển kinh tế và cần chú trọng đến chất lượng tăng trưởng hơn là tốc độ tăng trưởng.

Để đảm bảo cho nền kinh tế vận hành tốt trên nền tảng tích cực của năm 2019, Chính phủ cần ưu tiên những yếu tố nào trong năm 2020, thưa ông?

Để duy trì đà tăng trưởng cũng như đảm bảo phát triển kinh tế bền vững, Chính phủ cần tiếp tục điều hành ổn định KTVM và đẩy mạnh hơn nữa cải cách thể chế. Tôi nhớ là hai từ “thể chế” đã được Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc nhắc đến rất nhiều lần tại các sự kiện quan trọng trong thời gian qua.

Về kinh tế, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh các cải cách tái cơ cấu quan trọng, bao gồm cải cách DNNN, lĩnh vực tài chính - ngân hàng, y tế và giáo dục… Ở cấp độ ngành, điều quan trọng là phải giải quyết vấn đề “lưỡng cực” của nền kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực chế biến chế tạo đang bị chi phối bởi các DN FDI,  ít có hoặc không có mối liên kết nào với các DN trong nước.

Đối với ngành nông nghiệp, thương mại hóa nông nghiệp, phát triển chuỗi giá trị kinh doanh nông nghiệp có giá trị cao là rất quan trọng để chuyển đổi ngành nông nghiệp thành ngành có giá trị cao đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam đang phát triển nông nghiệp chủ yếu dựa vào các nguồn lực tự nhiên.

Đặc biệt nếu không phát triển hệ thống quốc gia về đổi mới sáng tạo, Việt Nam sẽ rất khó khăn trong việc áp dụng các công nghệ tiên tiến hơn và tăng cường năng lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu cũng như tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc tế. Việt Nam cần phải làm nhiều hơn nữa để nâng cao năng suất và hiệu quả, trong đó tăng trưởng được đẩy mạnh hơn bởi đổi mới sáng tạo và công nghệ, thay vì vốn và lao động giá rẻ. 

Cuối cùng, Việt Nam cần tập trung giải quyết các thách thức của biến đổi khí hậu, các vấn đề về nhân khẩu học và thu hẹp các khoảng cách bất bình đẳng trong xã hội.

Theo ông, đâu là những thách thức chủ yếu bên trong và bên ngoài đối với chính sách tiền tệ năm 2020 và những khuyến nghị của ông để vượt qua những thách thức này?

Kinh tế toàn cầu được dự báo vẫn có nhiều yếu tố bất định, diễn biễn phức tạp, khó lường trước những thách thức lớn như giá dầu biến động khó lường, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung tiếp tục leo thang đang kéo giảm thương mại toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế của nhiều nền kinh tế trên thế giới chậm lại. Chưa kể, Việt Nam không bị coi là nước thực hiện thao túng tiền tệ nhưng đã bị đưa vào danh sách theo dõi của Bộ Tài chính Mỹ… Chính vì vậy, việc điều hành tỷ giá VND/USD cần hết sức thận trọng, linh hoạt theo diễn biễn thị trường, tránh can thiệp một chiều trên thị trường ngoại hối.

Các yếu tố bên ngoài không mấy thuận lợi như vậy sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế định hướng xuất khẩu và có độ mở cao như Việt Nam. Ở trong nước, việc chậm giải ngân đầu tư công do những hạn chế về chính sách và pháp lý sẽ trì hoãn việc thực hiện các dự án hạ tầng quan trọng, cản trở triển vọng tăng trưởng trong dài hạn.

Trong nước, mục tiêu tăng trưởng cho năm 2020 đặt ra ở mức cao 6,8%, trong khi ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, 2020, năm cuối cùng của Kế hoạch 5 năm 2016-2020, nhiều khả năng các nguồn vốn đầu tư công, vốn ngân sách nhà nước cho các dự án đầu tư được đẩy mạnh giải ngân trong năm, sẽ làm tăng áp lực lạm phát. Thách thức đặt ra cho điều hành chính sách tiền tệ làm sao kiểm soát lạm phát ở mức thấp, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, nhưng vẫn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Chính vì vậy, trong năm 2020, NHNN cần tiếp tục thực hiện điều hành chính sách tiền tệ  thận trọng, linh hoạt sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ cũng như linh hoạt trong điều hành tỷ giá trên cơ sở theo dõi chặt chẽ các diễn biến trong và ngoài nước. Hệ thống ngân hàng vừa phải đảm bảo kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh hiệu quả, hạn chế cho vay các lĩnh vực có nhiều rủi ro (cho vay kinh doanh bất động sản, đầu tư chứng khoán…). Năm 2020 cũng là năm hệ thống ngân hàng cần tiếp tục thực hiện mạnh mẽ các giải pháp tăng vốn theo yêu cầu Basel II, cũng như thực hiện lộ trình giảm tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung-dài hạn.

Việc điều hành tỷ giá và can thiệp trên thị trường ngoại hối cần thực hiện linh hoạt, kịp thời bám sát theo diễn biến thị trường, xử lý linh hoạt mối quan hệ giữa đồng VND với USD và CNY.

Xin cảm ơn ông!

Đỗ Lê thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000