HSBC: Phục hồi còn chặng đường dài phía trước

07:00 | 09/11/2021

Báo cáo vĩ mô tháng 11/2021 với tiêu đề: Ngành du lịch bắt đầu “rã đông” của Bộ phận Global Research của HSBC vừa phát hành nhận định, bước đầu mở cửa của Việt Nam dù còn khá dè dặt và thận trọng cũng đem lại tác động không nhỏ lên nền kinh tế.

hsbc phuc hoi con chang duong dai phia truoc Xác định những giải pháp phù hợp, căn cơ để phục hồi kinh tế
hsbc phuc hoi con chang duong dai phia truoc Phòng, chống dịch đồng bộ với phục hồi kinh tế
hsbc phuc hoi con chang duong dai phia truoc

Theo đó, mở cửa lại biên giới và hồi sinh ngành du lịch gần đây đã trở thành chủ đề nổi cộm đối với các nước ASEAN. Mặc dù kế hoạch mở cửa lại của Việt Nam không thực sự tham vọng như các quốc gia láng giềng trong khu vực nhưng các du khách đã tiêm phòng đầy đủ rất ủng hộ quyết định mở lại 5 điểm đến du lịch mà không yêu cầu cách ly trong tháng 11.

Bước đầu mở cửa của Việt Nam dù còn khá dè dặt và thận trọng nhưng cũng đem lại những tác động không nhỏ lên nền kinh tế. Tuy nhiê,  báo cáo cho rằng chặng đường trước mắt còn dài. Phục hồi ngành du lịch thành công như thế nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố.

Một mặt, tỷ lệ tiêm phòng trên toàn quốc còn thấp và tình hình COVID-19 vẫn diễn biến phức tạp có thể tạo ra tâm lý e ngại. Trong khi đó, sự thiếu vắng khách du lịch Trung Quốc - từng chiếm 1/3 tổng lượt khách đến Việt Nam - cũng cho thấy khả năng tăng trưởng trong tương lai gần có thể không xảy ra. Ngoài ra, trong triển khai thực tiễn, cần thêm nhiều nỗ lực để nối lại các chuyến bay quốc tế. Tuy nhiên, điều đáng khích lệ là Việt Nam đang đạt được nhiều tiến triển để chuẩn bị đón khách du lịch trở lại.

Về tình hình kinh tế gần đây, báo cáo cho thấy từ 1/10, TP. Hồ Chí Minh và các khu vực lân cận đã bắt đầu hoạt động trở lại sau gần 4 tháng siết chặt giãn cách. Tuy nhiên, tốc độ khôi phục chuỗi cung ứng và giải quyết đơn hàng tồn đọng còn chậm chạp mà nguyên nhân chính yếu là tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng. Tình hình xuất khẩu và sản xuất công nghiệp tháng 10 càng phản ánh rõ nét khó khăn này. Trong khi đó, phục hồi sản xuất chậm trễ báo hiệu quý IV năm nay sẽ tăng trưởng không mạnh mẽ.

Về lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 đã giảm 0,2% so với tháng trước, dẫn tới chỉ tăng 1,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Nguyên nhân chủ yếu do áp lực giá dao động theo nhu cầu đã giảm xuống, nhưng cũng là một dấu hiệu cho thấy tình hình phục hồi kinh tế sẽ không nhanh.

Dù áp lực giá không còn, một vấn đề cần quan tâm theo dõi là giá nhiên liệu tăng. Cụ thể, chi phí vận tải tăng nhanh (2,5%) so với tháng trước, trở thành nhân tố chính khiến CPI tăng.

“Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn tin tưởng rằng nhu cầu trong nước dần phục hồi dù chậm vẫn có khả năng bù lại cho giá nhiên liệu tăng cao. Kỳ vọng lạm phát sẽ chỉ tăng lên 2,1% trong năm 2021. Khi nền kinh tế trở lại bình thường, nhu cầu trong nước nhiều khả năng sẽ đẩy lạm phát lên 3,5% trong năm 2022”, báo cáo dự báo.

ĐP

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.470 22.780 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.500 22.780 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.493 22.793 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.530 22.740 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.520 22.730 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.503 22.790 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.515 22.795 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.530 22.730 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.550 22.730 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.100
61.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.100
61.700
Vàng SJC 5c
61.100
61.720
Vàng nhẫn 9999
52.750
53.450
Vàng nữ trang 9999
52.450
53.150