Khó khăn bủa vây ngành dệt may

10:00 | 05/10/2022

Theo thông tin các đơn vị chức năng cập nhật được gần đây từ các nhà sản xuất hàng may mặc trong nước, số lượng đơn đặt hàng trong quý IV/2022 sẽ thấp hơn 25-50% so với quý II/2022, tương đương với mức giảm doanh thu 15-20% so với cùng kỳ, do lượng hàng tồn kho tại các thị trường nhập khẩu hiện ở mức cao...

kho khan bua vay nganh det may Ngành dệt may tích cực chuyển đổi số
kho khan bua vay nganh det may Cổ phiếu dệt may đã đến thời điểm “bắt đáy”?
kho khan bua vay nganh det may Dệt may đẩy mạnh kinh tế tuần hoàn

Theo bà Hoàng Việt Phương, Giám đốc Trung tâm phân tích và tư vấn đầu tư, CTCP Chứng khoán SSI, 8 tháng đầu năm, ngành dệt may đạt kết quả khả quan cả về tốc độ tăng trưởng và số liệu tuyệt đối. Tuy nhiên, hiện nhiều yếu tố cho thấy, ngành dệt may sẽ gặp khó khăn khi triển vọng đơn hàng cho quý IV/2022 và 6 tháng đầu năm 2023 không mấy khả quan do những lo ngại lạm phát tăng và lượng hàng tồn kho ở mức cao của khách hàng.

kho khan bua vay nganh det may
Ảnh minh họa.

Nhìn lại 8 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đạt hơn 31,3 tỷ USD (tăng 16,4% so với cùng kỳ), với kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc đạt 24,3 tỷ USD (tăng 24,6% so với cùng kỳ) và kim ngạch xuất khẩu sợi đạt 3,5 tỷ USD (giảm 5% so với cùng kỳ). Xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 12,9 tỷ USD (tăng 22,5% so với cùng kỳ và chiếm 41% tổng kim ngạch xuất khẩu)...

Tuy nhiên, những khó khăn đã dần lộ ra trong tháng 9. Trong nửa đầu tháng 9/2022, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt 1,2 tỷ USD, giảm 48% so với nửa đầu tháng 8/2022, cho thấy mức giảm đáng kể các đơn đặt hàng.

Theo thông tin các đơn vị chức năng cập nhật được gần đây từ các nhà sản xuất hàng may mặc trong nước, số lượng đơn đặt hàng trong quý IV/2022 sẽ thấp hơn 25-50% so với quý II/2022, tương đương với mức giảm doanh thu 15-20% so với cùng kỳ do lượng hàng tồn kho tại các thị trường nhập khẩu hiện ở mức cao.

Các đơn đặt hàng sẽ giảm mạnh hơn đối với những doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu chính là Hoa Kỳ và EU. Xuất khẩu sang Nhật Bản và Hàn Quốc cũng có xu hướng giảm, nhưng ở mức độ thấp hơn. Nhiều công ty đã bắt đầu nhận đơn đặt hàng cho quý I/2023, tuy nhiên lượng đơn hàng nhận được vẫn còn rất xa so với công suất hoạt động của doanh nghiệp.

Cũng theo bà Phương, hầu hết khách hàng đang đàm phán để giảm đơn đặt hàng nhưng ngay cả những đơn hàng CMT (đơn đặt hàng sản xuất may gia công của các công ty thời trang lớn nước ngoài cho các xưởng may mặc quần áo tại Việt Nam) hiện cũng đang bị ép giá.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp ngành dệt may còn chịu tác động từ biến động tỷ giá USD/VND. Theo SSI cho biết, mặc dù hầu hết các công ty dệt may đều ghi nhận doanh thu bằng USD, nhưng nhiều chi phí liên quan đến nguyên vật liệu, logistics và lãi vay… của họ cũng được tính bằng USD. Do đó, trong quý II/2022, nhiều công ty đã ghi nhận khoản lỗ do biến động tỷ giá.

Khi triển vọng bán hàng trở nên ảm đạm, trong khi đồng USD được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong nửa cuối năm 2022, sẽ tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có chi phí bằng USD cao.

Bà Việt Phương nhận định, doanh nghiệp sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng số lượng các đơn đặt hàng bởi những lo ngại về lạm phát và suy thoái kinh tế toàn cầu cho đến nửa đầu năm 2023. Các đơn đặt hàng sẽ cải thiện vào cuối quý II hoặc quý III/2023 nếu lạm phát giảm bớt.

Mặc dù giá nguyên liệu đầu vào tốt hơn sẽ tác động tích cực đến tỷ suất lợi nhuận gộp của doanh nghiệp, nhưng giá bán bình quân đang chịu áp lực giảm từ các nhà bán lẻ. Do 6 tháng đầu năm 2022 là giai đoạn ghi nhận kết quả kinh doanh tương đối cao ở hầu hết các nhà sản xuất hàng dệt may trong nước. Do đó, dự báo nhiều doanh nghiệp ngành dệt may sẽ ghi nhận doanh thu giảm và lỗ ròng trong 6 tháng đầu năm 2023.

Đồng quan điểm này, ông Trần Minh Hoàng, Giám đốc Phân tích và Nghiên cứu, Công ty TNHH Chứng khoán NHTMCP Ngoại thương Việt Nam cũng cho biết, xuất khẩu hàng may mặc vẫn là động lực chính trong năm 2022. Tuy nhiên, giá xuất khẩu sợi Việt Nam sau khi đạt đỉnh vào tháng 4/2022, đã giảm đều đặn qua các tháng dưới tác động của chính sách siết cầu đơn hàng.

Trong quý IV/2022, giá xơ, sợi kỳ vọng vẫn tiếp tục giảm khi nhu cầu may mặc của nhiều quốc gia trên thế giới vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi. Ngoài ra, dưới tác động của lạm phát cũng như việc các nhãn hàng vẫn còn lượng lớn hàng tồn kho, dự báo số lượng đơn đặt hàng tại các doanh nghiệp Việt Nam trong IV/2022 sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng.

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000