Không gian cho tăng trưởng, phát triển còn rất lớn

14:45 | 07/12/2022

Như tôi đã nói, sự tăng trưởng mạnh hiện tại sẽ khó có thể kéo dài đến năm 2023 hay năm 2024. Chính vì vậy, chúng ta phải đánh giá năm 2022 này thật sự khách quan và bình tĩnh; tránh lạc quan quá mức sẽ không phù hợp với thực tế diễn biến trên cả khu vực tài chính và khu vực kinh tế thực.

khong gian cho tang truong phat trien con rat lon Nhiều ẩn số với kinh tế năm 2023

TS. Nguyễn Đình Cung lưu ý khi trả lời phỏng vấn của Thời báo Ngân hàng.

Với tình hình kinh tế 11 tháng, ông nhìn nhận thế nào về sự phục hồi của nền kinh tế trong năm nay?

Sau sự bật tăng mạnh trong 9 tháng, đặc biệt là quý III, sang quý IV tình hình có xấu hơn do thị trường thế giới giảm sâu, gây thêm nhiều khó khăn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và điều hành kinh tế vĩ mô trong nước. Nhưng tính chung cả 11 tháng đà phục hồi vẫn duy trì, tính chung cả năm 2022 nền kinh tế đã có sự phục hồi rất nhanh.

khong gian cho tang truong phat trien con rat lon
TS. Nguyễn Đình Cung

Sự phục hồi nhanh bắt nguồn từ việc trong năm 2021 chúng ta kiểm soát đại dịch Covid rất tốt, và đã kịp thời chuyển hướng, mở cửa trở lại nền kinh tế. Khi mở cửa trở lại chúng ta đã có các gói hỗ trợ phục hồi để tiếp thêm động lực cho các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh. Các hoạt động kinh tế, xã hội trong nước dần bình thường hóa và đây là động lực chính để thúc đẩy phục hồi nhanh. Sau một thời gian kìm nén du lịch nội địa và các dịch vụ phục hồi mạnh, xuất khẩu tăng cao… Nhưng sự phục hồi mạnh chỉ là hiện tượng nhất thời, bởi những yếu tố tạo nên sự phục hồi mạnh mẽ như xuất khẩu, du lịch dịch vụ, sản xuất… không tăng như những tháng trước và cũng khó kéo dài. Sang năm 2023 những lĩnh vực này sẽ không còn tăng trưởng mạnh như những tháng qua.

Theo ông, kinh tế Việt Nam sẽ chịu những tác động xấu như thế nào?

Như tôi đã nói, sự tăng trưởng mạnh hiện tại sẽ khó có thể kéo dài đến năm 2023 hay năm 2024. Chính vì vậy, chúng ta phải đánh giá năm 2022 này thật sự khách quan và bình tĩnh; tránh lạc quan quá mức sẽ không phù hợp với thực tế diễn biến trên cả khu vực tài chính và khu vực kinh tế thực.

Tôi muốn nhấn mạnh điều này để chúng ta có những chính sách phù hợp. Còn nếu như chúng ta lạc quan quá mức, cho rằng phục hồi đang rất tốt thì sẽ đưa ra chính sách không phù hợp với tình hình thực tế. Cho nên cần phải rất bình tĩnh trong đánh giá và dự báo tình hình. Nhìn cả từ bên ngoài cũng như bên trong tôi thấy các yếu tố nghiêng về bất lợi, không thuận là chủ yếu khi tình hình thế giới vẫn xấu đi.

Kinh tế toàn cầu đi xuống khiến tổng cầu suy giảm. Nhu cầu nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giảm xuống, thậm chí giảm xuống rất mạnh, qua đó đã, đang và sẽ tác động trực tiếp đến các đơn hàng xuất khẩu và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cùng với đó, giá năng lượng, nguyên vật liệu nhiều khả năng vẫn ở mức cao. Chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ của các nước sẽ tiếp tục thắt chặt, vừa gây áp lực dai dẳng đến chi phí sản xuất kinh doanh (khi chi phí tăng lên, lợi nhuận bị ảnh hưởng thì doanh nghiệp cũng sẽ phải điều chỉnh thu hẹp quy mô sản xuất), vừa tác động đến thị trường tiền tệ, tỷ giá trong nước.

Trong khi đó các kênh huy động vốn của doanh nghiệp khó khăn. Niềm tin của nhà đầu tư suy giảm khiến thanh khoản của thị trường thu hẹp; sức cầu trong nước có thể cũng suy giảm mạnh. Cùng với đó, năng lực quản lý hạn chế, hay chậm thay đổi trong các chính sách để thích ứng với tình hình thực tế… cũng sẽ là những yếu tố bất lợi. Do đó, nếu chúng ta không có những thay đổi mang tính đột biến, đột phá thì năm 2023 và tiếp theo sẽ vẫn tiếp tục rất khó khăn.

Vậy theo ông, các giải pháp cần tính tới là gì?

Về vĩ mô, tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát ở mức hợp lý tuỳ thuộc vào diễn biến thị trường và các yếu tố khách quan. Chính phủ không nên đặt mục tiêu quá cứng. Để thúc đẩy tăng trưởng, bên cạnh việc thực hiện tốt Chương trình phục hồi thì trước mắt cần tập trung thúc đẩy đầu tư công, thu hút khách du lịch quốc tế và hỗ trợ, tạo thuận lợi thương mại. Cùng với đó, cần có các giải pháp để giải tỏa các tâm lý có phần bất an của các nhà đầu tư, từng bước khôi phục niềm tin của thị trường. Đặc biệt, cần củng cố lòng tin và động lực cho công chức, các cơ quan nhà nước để xóa bỏ tâm lý sợ làm sai đang là rào cản, thách thức lớn trong việc đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội.

Tôi cho rằng, không gian cho tăng trưởng, phát triển còn bao la. Vì vậy, đẩy mạnh cải cách vĩ mô từ phía cung; nhất là cải cách thể chế, tháo bỏ rào cản, tạo thuận lợi đối với đầu tư kinh doanh… là cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết để có thể thúc đẩy tăng trưởng. Cách thức điều hành, quản lý vĩ mô cần linh hoạt hơn; cải cách môi trường kinh doanh mạnh mẽ và thực chất hơn.

Động lực tăng trưởng của năm tới trông vào đâu, và làm gì để đạt mục tiêu tăng trưởng, thưa ông?

Động lực tăng trưởng của năm tới trông vào đầu tư công, thị trường nội địa và doanh nghiệp nội địa. Theo đó, chúng ta phải thúc đẩy đầu tư công và tiếp tục tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là để khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỷ trọng đóng góp trong GDP. Gắn với quá trình này là phải xoá bỏ rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định hướng. Kinh tế tư nhân phải được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để các hộ kinh doanh tự nguyện liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác hoặc hoạt động theo mô hình doanh nghiệp.

Phải gỡ được nút thắt về thể chế làm cho doanh nghiệp tư nhân sợ lớn, không muốn lớn; cũng như những nút thắt đang kìm hãm, làm cho doanh nghiệp tư nhân muốn lớn cũng không lớn được. Đồng thời, khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu; và để tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, có đủ khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu. Nhiệm vụ cải cách thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân thực sự là khó khăn, lâu dài. Nhưng phát triển kinh tế tư nhân là con đường tất yếu để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững; độc lập, tự chủ và có sức chống chịu tốt.

Cho nên, như nhiều lần tôi đã nêu quan điểm, chúng ta rất cần một tư duy phát triển mới để tạo ra một làn sóng cải cách mới. Thực ra mà nói, làn sóng cải cách mới cũng không có gì là xa lạ, như trong Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 2021- 2030 đã nêu đầy đủ. Chỉ cần làm theo đó, nhưng phải có một tư duy phát triển mới thì mới làm được.

Xin cảm ơn ông!

Đỗ Lê thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.430 23.800 24.662 26.042 27.702 28.883 175,33 185,62
BIDV 23.490 23.790 24.859 26.062 27.830 28.912 173.60 182.70
VietinBank 23.400 23.800 24.488 26.123 28.168 29.178 176,97 184,92
Agribank 23.440 23.800 24.910 26.057 27.948 28.857 177,53 185,26
Eximbank 23.410 23.750 24.970 25.647 28.029 28.789 177,36 182,17
ACB 23.400 23.800 25.009 25.606 28.028 28.765 177,51 181,93
Sacombank 23.470 23.870 25.080 25.687 28.247 28.862 177,80 183,35
Techcombank 23.430 23.790 24.760 26.090 27.766 29.067 173,38 185,81
LienVietPostBank 23.430 24.100 24.880 26.235 28.154 29.108 176,00 187,77
DongA Bank 23.480 23.790 24.980 25.620 28.050 28.760 176,5 182,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.400
Vàng SJC 5c
66.600
67.420
Vàng nhẫn 9999
54.000
54.950
Vàng nữ trang 9999
53.750
54.550