Làm chủ công nghệ, nâng tầm sản phẩm Việt
![]() |
| Doanh nghiệp Việt đầu tư công nghệ hiện đại vào sản xuất |
Chọn đúng bài toán để tập trung nguồn lực
Hiện nay, công nghệ ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản xuất công nghiệp. Với ngành Công Thương, yêu cầu tự chủ công nghệ gắn trực tiếp với những bài toán lớn như bảo đảm an ninh năng lượng, nâng cao năng lực chế tạo, tăng tỷ lệ nội địa hóa, hiện đại hóa thương mại và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Tuy nhiên, tiếp cận được công nghệ chưa đồng nghĩa với làm chủ công nghệ. Chia sẻ tại tọa đàm “Tự chủ công nghệ của ngành Công Thương: Bài toán lớn và sản phẩm công nghệ chiến lược” do Tạp chí Công thuong tổ chức, ông Hoàng Ninh, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số, Bộ Công Thương cho rằng, tự chủ công nghệ không có nghĩa Việt Nam phải tự làm tất cả, mà cần làm chủ những công nghệ, khâu công nghệ và sản phẩm có ảnh hưởng đến an ninh kinh tế, năng lực cạnh tranh và sự phát triển lâu dài của ngành.
Theo đó, ba bài toán lớn được đặt ra gồm bảo đảm an ninh năng lượng; tự chủ công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa; và hiện đại hóa thương mại thông qua dữ liệu, logistics thông minh, chuỗi cung ứng tin cậy. Từ các bài toán này mới xác định những công nghệ cần ưu tiên như thiết bị điện, lưu trữ năng lượng, robot, tự động hóa, sản xuất thông minh, AI, dữ liệu lớn, truy xuất nguồn gốc hay logistics thông minh. Điểm quan trọng, theo ông Hoàng Ninh, là phải chuyển từ tư duy “ứng dụng công nghệ” sang từng bước “làm chủ năng lực công nghệ”, qua đó tạo ra những sản phẩm có giá trị và khả năng cạnh tranh.
![]() |
| Việt Nam đã làm chủ một số công nghệ thiết kế, chế tạo và cung cấp thiết bị cho các công trình thủy điện |
Từ thực tiễn nghiên cứu cơ khí, TS. Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí, cho biết năng lực công nghệ trong nước đã có những bước tiến đáng kể. Việt Nam đã làm chủ một số công nghệ thiết kế, chế tạo và cung cấp thiết bị cho các công trình thủy điện, với hơn 29 công trình thủy điện công suất trên 100 MW, trong đó có Sơn La và Lai Châu. Ở tầng cao hơn, các đơn vị trong nước đã tham gia tổng thầu EPC, EPCM trong một số lĩnh vực năng lượng, thiết kế, chế tạo giàn khoan cho ngành dầu khí. Còn hiện nay, những hướng mới đang được tập trung gồm robot công nghiệp, robot tự hành, thiết bị đóng cắt cao áp, bản sao số, sản xuất thông minh, đường sắt cao tốc và đường sắt đô thị. Đây đều là những lĩnh vực gắn với dung lượng thị trường và các bài toán lớn của quốc gia.
Tuy nhiên, một trong những vấn đề được các diễn giả dành nhiều thời gian trao đổi là khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu và sản phẩm thực tế. TS. Vũ Văn Khoa chỉ ra hai khoảng trống lớn. Một là ý tưởng của nhà khoa học chưa phải lúc nào cũng trùng khớp với nhu cầu doanh nghiệp. Hai là sau khi hoàn thành nghiên cứu, sản phẩm vẫn cần thử nghiệm ở quy mô thực, hoàn thiện thiết kế và kiểm chứng theo tiêu chuẩn khách hàng hoặc tiêu chuẩn quốc gia, ngành. Đây là giai đoạn đòi hỏi nhiều thời gian và kinh phí, nhưng trong thực tế chưa phải nhiệm vụ nghiên cứu nào cũng có đủ nguồn lực cho khâu hoàn thiện công nghệ và sản xuất thử nghiệm.
Từ làm chủ công nghệ đến làm chủ thị trường
Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp Việt đã làm chủ công nghệ và tạo ra những sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Đơn cử Tổng Công ty Thiết bị điện Đông Anh đã bắt đầu xuất khẩu máy biến áp 132 kV - 70 MVA cho dự án BESS tại Australia. Theo ông Nguyễn Hải Quân, Phó Tổng giám đốc EEMC, khó nhất với doanh nghiệp là quá trình chuyển hóa từ “đi mua công nghệ” sang “tự chủ công nghệ”. Doanh nghiệp phải làm chủ từ thiết kế điện từ trường, cách điện, tổn hao, khả năng chịu ngắn mạch đến công nghệ chế tạo, thử nghiệm và kiểm định. Theo đó 3 trụ cột được EEMC xác định là làm chủ thiết kế; làm chủ mô phỏng, kiểm định và tối ưu thiết kế; đồng thời làm chủ công nghệ thử nghiệm, kiểm định sản phẩm.
Ông Nguyễn Hải Quân khẳng định, để tạo ra một sản phẩm công nghệ phức tạp, không thể chỉ dựa vào một thiết bị hay một bản thiết kế. Doanh nghiệp phải tích lũy tri thức, kinh nghiệm công nghệ, dữ liệu kiểm chứng và xây dựng đội ngũ đủ năng lực phối hợp từ thiết kế, vật tư, sản xuất đến kiểm tra chất lượng và thử nghiệm. Khi bước ra thị trường quốc tế, yêu cầu còn cao hơn. Doanh nghiệp phải tiến từ làm chủ một sản phẩm sang làm chủ hệ thống công nghệ, có khả năng thiết kế, tùy biến sản phẩm theo tiêu chuẩn từng thị trường, đồng thời cung cấp dịch vụ trong toàn bộ vòng đời sản phẩm.
![]() |
| Máy biến áp 70 MVA - 132/33 kV tại trạm Clements Gap BESS, South Australia do Tổng công ty Thiết bị điện Đông Anh (EEMC) thiết kế, chế tạo |
Theo các chuyên gia, để một kết quả nghiên cứu trở thành sản phẩm công nghệ chiến lược, trước hết sản phẩm phải được kiểm chứng và sản xuất ở quy mô công nghiệp, có độ tin cậy, giá thành phù hợp và thị trường đủ lớn. Đồng thời, doanh nghiệp phải làm chủ những khâu công nghệ lõi, thiết kế và bí quyết tạo giá trị gia tăng cao, cũng như đủ năng lực sản xuất, kiểm thử và chịu trách nhiệm về chất lượng.
TS. Vũ Văn Khoa - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí cho biết, Một sản phẩm công nghệ chiến lược không thể chỉ dừng ở phòng thí nghiệm. Sản phẩm phải được kiểm chứng ở quy mô công nghiệp với độ tin cậy cao, giá thành cạnh tranh và có thị trường đủ lớn. Đồng thời, doanh nghiệp phải làm chủ những khâu công nghệ lõi, thiết kế và bí quyết tạo giá trị gia tăng cao, cũng như đủ năng lực chế tạo, kiểm thử, bảo đảm chất lượng và bảo hành.
Với doanh nghiệp, cơ chế đặt hàng xuất phát từ nhu cầu thực tế, có lộ trình rõ từ nghiên cứu, thử nghiệm đến ứng dụng và thương mại hóa là một động lực quan trọng. Chính vì vậy cần có cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý giữa Nhà nước, đơn vị sử dụng và đơn vị nghiên cứu - chế tạo, trên cơ sở tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá minh bạch.
Từ bài toán lớn của ngành đến một sản phẩm công nghệ cụ thể vì vậy không phải là một bước nhảy, mà là cả một chuỗi liên kết. Khi Nhà nước định hướng đúng và tạo cơ chế; viện, trường cung cấp tri thức, công nghệ và nhân lực; doanh nghiệp đưa công nghệ vào sản xuất, thị trường và tiếp tục đầu tư nâng cấp, những kết quả nghiên cứu mới có cơ hội chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh. Đó cũng là cách để tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW được cụ thể hóa thành những năng lực công nghệ, sản phẩm và giá trị thực tế cho ngành Công Thương, thay vì dừng lại ở những kết quả nghiên cứu trên giấy.
Tin liên quan
Tin khác
Tận dụng FTA nâng cao sự hiện diện của hàng Việt tại Úc
Thúc đẩy hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ quốc gia
Doanh nghiệp Hoa Kỳ muốn đầu tư nhà máy sản xuất máy bay điện tại Đà Nẵng
Gỡ 'nút thắt' để doanh nghiệp thủy sản nâng sức cạnh tranh
Quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa
Tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp thuộc diện ưu tiên hải quan
Thương mại điện tử - bệ phóng đưa doanh nghiệp nhỏ ra thế giới
Chuyển hướng sang thị trường CPTPP, doanh nghiệp cần gì?
Làm sao để thương hiệu Việt không ở lại phía sau?





