Mục tiêu xuất khẩu nông sản 100 tỷ USD: Không chỉ bán sản phẩm, mà phải bán câu chuyện của sản phẩm
![]() |
| Các vị khách mời tham dự chương trình Tọa đàm (từ trái sang): Ông Tô Nguyễn Thành, chuyên gia khoa học công nghệ về truy xuất nguồn gốc nông thủy sản; ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP); ông Âu Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính); ông Đặng Kim Sơn, chuyên gia kinh tế, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp, nông thôn; TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, điều phối chương trình - Ảnh: VGP/Giang Thanh |
Áp lực không nhỏ để đạt mục tiêu lớn
Tại Tọa đàm “Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?” do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức ngày 9/7, các chuyên gia, đại diện cơ quan quản lý và hiệp hội ngành hàng nhìn nhận mục tiêu đưa xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD trước năm 2030, thậm chí phấn đấu sớm hơn vào cuối năm 2027, là rất thách thức nhưng không phải ngoài tầm với nếu có cách làm đột phá, cơ chế điều phối đủ mạnh, nỗ lực và sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp, hiệp hội, địa phương, nhà khoa học và người sản xuất.
Năm 2025, tổng giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 70 tỷ USD, đóng góp khoảng 20 tỷ USD xuất siêu cho nền kinh tế. Theo ông Âu Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính), từ năm 2021 đến nay, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng bình quân khoảng 10-12%/năm. Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu vẫn duy trì đà tăng, đạt khoảng 35,88 tỷ USD, song tốc độ tăng đã chậm lại, chỉ tăng khoảng 6% so với cùng kỳ năm 2025. Một số nhóm hàng vẫn tăng trưởng hai con số như thủy sản tăng 11,4%, rau quả tăng 17,7%, sản phẩm chăn nuôi tăng 34%.
Theo ông Âu Anh Tuấn, để năm 2027 đạt 100 tỷ USD, nếu năm 2026 dự kiến đạt khoảng 75 tỷ USD thì kim ngạch năm sau phải tăng rất mạnh trong bối cảnh không thuận lợi. Tăng trưởng toàn cầu chậm, bảo hộ thương mại gia tăng, biến động tỷ giá, chi phí logistics, cùng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững và giảm phát thải đang tạo áp lực lớn. Dù vậy, ông cho rằng, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, các cải cách được thúc đẩy mạnh mẽ, phương thức thực hiện được thay đổi cùng nỗ lực từ cộng đồng doanh nghiệp, kim ngạch năm 2027 có thể tiệm cận mục tiêu 100 tỷ USD.
Ở góc nhìn ngành hàng, ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), cho rằng mục tiêu trên là “khá áp lực”, bởi muốn đạt mục tiêu 100 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng phải vượt xa “công thức” thông thường.
“Chúng ta phải có một giải pháp mới và một mô hình mới”, ông Nam nói và cho biết: “Là một ngành hàng trong cộng đồng nông nghiệp, chúng tôi mong muốn được đóng góp trong đó. Năm nay chúng tôi đang tính tăng khoảng 10%, hơn 12 tỷ USD. Nhưng để đồng hành với mục tiêu này, toàn ngành phải đạt mức tăng lên đến 30% và như vậy phải có nhiều việc phải làm. Chúng tôi tin là sẽ được đồng hành với Chính phủ và với Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong câu chuyện này”.
Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit) (tham dự trực tuyến Tọa đàm từ Thành phố Hồ Chí Minh), cũng nhìn nhận mục tiêu 100 tỷ USD là một kỳ vọng khá cao, nhất là trong bối cảnh ngành rau quả nói riêng, nông lâm thủy sản nói chung đang gặp một số khó khăn. Dù vậy, ông tin tưởng với năng lực sản xuất, dư địa thị trường và lợi thế của nông sản Việt Nam, mục tiêu này vẫn có thể đạt được nếu xử lý được các điểm nghẽn bộc lộ thời gian qua.
Còn theo ông Đặng Kim Sơn, chuyên gia kinh tế, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp, nông thôn, mục tiêu đạt 100 tỷ USD “không phải là ngoài tầm với”. Ông nói: “Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng nếu chúng ta quyết tâm đổi mới một cách đột phá, thay đổi một cách làm hoàn toàn khác biệt so với trước thì chúng ta sẽ đạt được mục tiêu này, có thể là trước hoặc có thể là đúng quãng thời gian chúng ta đã đặt ra”.
![]() |
| Các đại biểu trao đổi tại Tọa đàm - Ảnh: VGP/Giang Thanh |
Không chỉ tăng sản lượng, phải cả tăng giá trị
Điểm chung nổi bật tại tọa đàm là yêu cầu chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp. TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, điều phối chương trình, nhấn mạnh nếu chỉ sản xuất nông nghiệp để xuất khẩu thì khó đạt mục tiêu. Điều quan trọng không chỉ là tăng sản lượng, mà phải nâng giá trị trên một chuỗi được kết nối đồng bộ.
“Chúng ta không chỉ bán sản phẩm, mà phải bán chất lượng, bán thương hiệu, bán sự tin cậy và bán cả câu chuyện của sản phẩm. Những điều đó không thể chỉ người nông dân hay ngư dân có thể làm được, mà cần sự tham gia của cả một chuỗi trong nền kinh tế”, TS. Nguyễn Sĩ Dũng nhấn mạnh.
Đồng tình với quan điểm trên, ông Đặng Kim Sơn phân tích, giá trị của nông sản không chỉ nằm ở dinh dưỡng, độ ngon, độ bổ, mà còn ở vệ sinh an toàn, câu chuyện văn hóa, lịch sử, yêu cầu xanh, sạch, trách nhiệm xã hội, bảo đảm an ninh lương thực và sức mạnh mềm quốc gia. Dư địa tăng giá trị còn nằm ở chế biến sâu, phụ phẩm và kinh tế tuần hoàn. Vì vậy, cần tổ chức lại vùng sản xuất thành các vùng chuyên canh lớn, trong đó lõi là khoa học công nghệ, doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, hợp tác xã, trung tâm chế biến sâu và hệ thống logistics kết nối tới cửa khẩu, cảng biển, đường sắt, đường bộ, đường hàng không.
Với rau quả, ông Nguyễn Thanh Bình chỉ ra hai điểm nghẽn lớn. Thứ nhất là tập quán canh tác của nhiều hộ nông dân vẫn chủ yếu là sản xuất nhỏ, theo thói quen, khiến tài nguyên bị khai thác quá mức, đất đai bị bào mòn, tích tụ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng. Một số vùng trồng trái cây ở miền Tây Nam Bộ, trong đó có sầu riêng, mít, đang gặp vấn đề về chất lượng do tồn dư trong đất, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Thứ hai là năng lực kiểm tra, kiểm định hàng hóa xuất khẩu. Theo ông Bình, cuối năm 2025 và đầu năm 2026, tình trạng thông quan chậm đối với trái cây xuất khẩu sang Trung Quốc cho thấy năng lực kiểm tra, kiểm định chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Vì vậy, cần đầu tư thêm năng lực kiểm nghiệm, xây dựng cơ sở kiểm định tại vùng nguyên liệu, đồng thời đàm phán với phía nhập khẩu để công nhận kết quả kiểm định lẫn nhau.
Về mặt hàng trọng tâm, ông Bình cho rằng cần tập trung vào những ngành hàng còn dư địa lớn, có khả năng tăng nhanh kim ngạch như gạo, cà phê, trái cây, thủy sản. Với sầu riêng, Việt Nam có khoảng 170.000 ha, sản lượng năm nay có thể đạt 1,8-2 triệu tấn, nhưng chất lượng và mã số vùng trồng còn là thách thức, do hiện chỉ khoảng 30-40% diện tích được cấp mã số vùng trồng.
Thị trường, nguyên liệu và lao động là các nút thắt lớn
Từ kinh nghiệm của ngành thủy sản, ông Nguyễn Hoài Nam cho rằng nếu muốn tăng xuất khẩu, trước hết phải nhìn vào thị trường, bởi thị trường kéo sản xuất. Cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, các nước đều vươn lên và gia tăng bảo hộ. Riêng ngành thủy sản đã phải “chiến đấu” nhiều năm tại thị trường Mỹ để giữ thị phần; con tôm đang mang về khoảng 4 tỷ USD, riêng thị trường Hoa Kỳ gần 1 tỷ USD, nhưng cũng là mặt hàng chịu nhiều rào cản.
Theo ông Nam, với mục tiêu 100 tỷ USD, cần rà soát dư địa ở cả ba góc độ: thị trường, thể chế và thực thi. Với thủy sản, nếu muốn tăng từ khoảng 12 tỷ USD lên 16 tỷ USD, lượng container hàng phải tăng rất mạnh. Khi đó câu hỏi đầu tiên là nguyên liệu lấy ở đâu, ngưỡng môi trường, đất đai, quy hoạch, khai thác biển còn bao nhiêu.
Cùng với nguyên liệu là lao động. Ông Nam cho biết thủy sản vẫn là ngành thâm dụng lao động và các doanh nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long đang thiếu lao động trầm trọng.
![]() |
| Các đại biểu trao đổi tại Tọa đàm - Ảnh: VGP/Giang Thanh |
Dữ liệu là hạ tầng mới của xuất khẩu nông nghiệp
Một trụ cột quan trọng khác được nhiều ý kiến nhấn mạnh tại tọa đàm là dữ liệu. Theo ông Tô Nguyễn Thành, chuyên gia khoa học công nghệ về truy xuất nguồn gốc nông thủy sản, trong bối cảnh tiêu chuẩn nhập khẩu ngày càng khắt khe, bán một sản phẩm phải đi kèm hồ sơ dữ liệu của sản phẩm đó: sản phẩm đến từ đâu, được sản xuất thế nào, quy trình chăm bón, sơ chế, chế biến, vận chuyển, kiểm nghiệm, kiểm dịch và thông quan ra sao…
Muốn có hồ sơ dữ liệu, cần số hóa ngay từ gốc, bao gồm dữ liệu vườn trồng, nhật ký chăm sóc, vận chuyển, cơ sở đóng gói, quy trình sản xuất, kiểm nghiệm, chứng nhận xuất xứ, kiểm dịch, tờ khai hải quan… và những dữ liệu này phải được xâu chuỗi với nhau, đưa vào hệ thống truy xuất nguồn gốc, được gắn kết vào định danh.
Theo ông Thành, mấu chốt là dữ liệu, liên kết toàn bộ chuỗi dữ liệu và liên thông dữ liệu giữa nông dân, doanh nghiệp, địa phương và cơ quan quản lý. Trên cơ sở đó, có thể phát triển các hệ thống AI phục vụ cảnh báo, dự báo và hỗ trợ điều hành vĩ mô.
Ở góc độ hải quan, ông Âu Anh Tuấn cho biết chuyển đổi số không chỉ giúp thông quan nhanh hơn, mà còn giúp quản trị hiệu quả hơn, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đồng thời giúp cơ quan quản lý kiểm soát minh bạch, phòng chống gian lận và buôn lậu. Tuy nhiên, hải quan chỉ là khâu cuối cùng. Để thông quan nhanh, các khâu phía trước như kiểm nghiệm, kiểm dịch, cấp giấy chứng nhận xuất xứ, mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải nhanh và số hóa đồng bộ.
Cần một cơ chế điều phối đủ thẩm quyền
Từ các điểm nghẽn nêu trên, nhiều ý kiến tại tọa đàm thống nhất rằng muốn đạt mục tiêu 100 tỷ USD không thể để từng bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp xử lý riêng lẻ. Cần một cơ chế điều phối có đủ thẩm quyền để kết nối toàn chuỗi, phát hiện điểm nghẽn và xử lý ngay các vấn đề liên ngành.
Ông Nguyễn Hoài Nam đề xuất cần có ban chỉ đạo để bám sát mục tiêu, huy động nguồn lực và tổ chức công việc theo kế hoạch. Ông Nguyễn Thanh Bình cho rằng tổ điều hành phải ở tầm Chính phủ, tầm quốc gia, có quyền quyết định để tạo thay đổi đột phá. Ông Tô Nguyễn Thành cũng cho rằng tổ điều hành phải ở cấp Chính phủ vì xuất khẩu nông sản là bài toán liên ngành, đi từ nông nghiệp, công thương, hải quan đến nhiều cơ quan liên quan.
Ông Âu Anh Tuấn dẫn kinh nghiệm triển khai cơ chế một cửa ASEAN, một cửa quốc gia và cho rằng, cần thiết phải có một tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ (tên gọi có thể là tổ điều hành hay tổ công tác), để giải quyết các vướng mắc, khó khăn, tháo gỡ về chính sách thì mới làm được.
Cùng quan điểm, ông Đặng Kim Sơn bổ sung rằng đây không chỉ là hoạt động liên ngành, mà còn liên địa phương, liên vùng và có yếu tố ngoại giao với các nước nhập khẩu. Vì vậy, vai trò “nhạc trưởng” cần là Chính phủ. Đồng thời, tổ công tác cần có sự tham gia của đại diện hiệp hội, doanh nghiệp, nông dân và các ngành hàng chiến lược như lúa gạo, rau quả, thủy sản, đồ gỗ để tiếng nói thực tiễn được phản ánh trực tiếp.
Kết luận tọa đàm, TS. Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng mục tiêu 100 tỷ USD là rất lớn, nhưng các ý kiến đều thống nhất rằng nếu có giải pháp đột phá, Việt Nam có thể đạt hoặc tiến rất sát mục tiêu này. Điều quan trọng là phải đổi mới tư duy, chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang vận hành một nền kinh tế nông nghiệp, trong đó khu vực công, khu vực tư, người sản xuất, doanh nghiệp, cơ quan kiểm nghiệm, kiểm dịch, hải quan, địa phương và hiệp hội cùng được kết nối thành một chuỗi.
Nếu tất cả mắt xích được kết nối chặt chẽ, chuỗi giá trị sẽ vận hành mạnh hơn. Vì vậy, việc hình thành một tổ công tác/tổ điều hành cấp Chính phủ, có thể do một Phó Thủ tướng phụ trách, với sự tham gia của các hiệp hội ngành hàng, sẽ là thiết chế quan trọng để thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng, đồng thời mở ra một tư duy mới trong vận hành kinh tế nông nghiệp Việt Nam.Tin liên quan
Tin khác
Sửa Luật Chứng khoán: Mở không gian cho công nghệ mới, cắt giảm thủ tục nhưng không hạ chuẩn an toàn
[Infographic] PMI tiếp tục trên ngưỡng 50 điểm trong tháng Tám
Dòng vốn FTSE vào chứng khoán Việt có thể lên tới 4,28 tỷ USD
Hạ tầng thay đổi cách nhà đầu tư định giá bất động sản
Khuyến khích đầu tư, phát triển hạ tầng kỹ thuật đo lường
Xuất khẩu nông lâm thủy sản 8 tháng đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ
Vincom Retail đạt “cú đúp”: Ghi danh tại VNSI, góp mặt trong Top 50 Công ty đại chúng uy tín và hiệu quả 2026
Xuất nhập khẩu lập kỷ lục, cán cân thương mại nhập siêu hơn 20 tỷ USD
[Infographic] Tình hình kinh tế - xã hội tháng Tám và 8 tháng năm 2026






