sn-bac
Chỉ số kinh tế:
Ngày 3/9/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.615 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.385/26.845 đồng/USD. Tháng 7/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 1,2% so với tháng trước, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước; bảy tháng năm 2026 tăng 11,4%, là mức tăng cao nhất của bảy tháng so với cùng kỳ năm trước trong nhiều năm qua, tăng ở cả 34 địa phương; số lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Bảy tháng năm 2026 có 187,2 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 7,5%; 155,3 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 7,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 445,5 nghìn tỷ đồng, bằng 39,0% kế hoạch năm và tăng 18,4%; tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58,0%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện đạt 15,20 tỷ USD, tăng 11,8%; tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt 2,36 tỷ USD, gấp 4,5 lần so với cùng kỳ năm trước. Thu ngân sách Nhà nước đạt 1.834,6 nghìn tỷ đồng, bằng 72,5% dự toán năm và tăng 16,0%; chi ngân sách Nhà nước đạt 1.364,3 nghìn tỷ đồng, bằng 43,2% dự toán năm và tăng 7,7%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 4.555,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1%; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1%, trong đó xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7%; nhập khẩu đạt 340,05 tỷ USD, tăng 34,8%; nhập siêu 20,52 tỷ USD; Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch 104,7 tỷ USD, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch 138,6 tỷ USD. CPI bảy tháng tăng 4,39%; lạm phát cơ bản tăng 4,19%; vận tải hành khách tăng 18,0%; vận tải hàng hóa tăng 14,9%; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 13,9 triệu lượt người, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Xuất khẩu nông lâm thủy sản 8 tháng đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ

Hà Sơn
Hà Sơn  - 
Kim ngạch đạt gần 49,31 tỷ USD sau 8 tháng cho thấy sức bật của xuất khẩu nông lâm thủy sản, song áp lực giá và phụ thuộc thị trường vẫn là bài toán lớn.
aa
Truy xuất nguồn gốc để nâng tầm giá trị nông sản Việt Mục tiêu xuất khẩu nông sản 100 tỷ USD: Không chỉ bán sản phẩm, mà phải bán câu chuyện của sản phẩm Ngân hàng tiếp tục đồng hành với xuất khẩu nông, lâm, thủy sản
Xuất khẩu nông lâm thủy sản tăng 7%, thị trường phân hóa mạnh
Xuất khẩu nông lâm thủy sản tăng 7%, thị trường phân hóa mạnh

Xuất khẩu nông lâm thủy sản (NLTS) tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong 8 tháng đầu năm 2026, song phía sau con số tăng 7% là sự phân hóa ngày càng rõ giữa các ngành hàng và thị trường.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giá trị xuất khẩu NLTS tháng 8/2026 ước đạt 6,47 tỷ USD, giảm 3,5% so với tháng trước nhưng tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 8 tháng đầu năm 2026, tổng giá trị xuất khẩu NLTS ước đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025. Đây tiếp tục là kết quả tích cực trong bối cảnh thị trường quốc tế có sự thay đổi nhanh về nhu cầu, giá cả và sức mua.

Trong cơ cấu xuất khẩu, nhóm nông sản vẫn giữ vai trò chủ lực, với giá trị đạt 25,66 tỷ USD, tăng 2,7%. Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%; thủy sản đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%; lâm sản đạt 12,57 tỷ USD, tăng 5,4%.

Đáng chú ý, nhóm đầu vào sản xuất đạt 2,61 tỷ USD, tăng tới 64,8%, trong khi xuất khẩu muối đạt 10,4 triệu USD, tăng 44,4%.

Cơ cấu tăng trưởng này cho thấy động lực xuất khẩu đang được mở rộng sang nhiều nhóm hàng. Tuy nhiên, tốc độ tăng không đồng đều cũng phản ánh một thực tế: tăng trưởng kim ngạch của NLTS Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào khả năng nâng giá trị thay vì đơn thuần gia tăng sản lượng.

Diễn biến tại các khu vực thị trường cũng cho thấy sự dịch chuyển đáng chú ý. Châu Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng NLTS chính của Việt Nam, chiếm 45,5% thị phần. Châu Mỹ và châu Âu đứng tiếp theo, với thị phần lần lượt 21,5% và 13,4%. Châu Phi và châu Đại Dương chiếm tỷ trọng nhỏ hơn, lần lượt 2,3% và 1,5%.

So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu NLTS chính trong 8 tháng đầu năm 2026 sang châu Á tăng 11,3%; châu Mỹ tăng 0,6%; châu Âu tăng 1,7%; châu Đại Dương tăng 16,4%. Trong khi đó, châu Phi giảm 18,3%.

Như vậy, châu Á không chỉ là khu vực có thị phần lớn nhất mà còn là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất của xuất khẩu NLTS Việt Nam. Ngược lại, mức giảm tại châu Phi cho thấy dư địa mở rộng thị trường vẫn còn rất lớn, nhưng khả năng khai thác phụ thuộc vào đặc điểm nhu cầu, logistics và sức mua từng khu vực.

Xét theo từng thị trường, Trung Quốc tiếp tục đứng đầu với thị phần 22,7%, Hoa Kỳ đứng thứ hai với 19,1% và Nhật Bản đứng thứ ba với 6,8%.

Đáng chú ý, trong 8 tháng đầu năm 2026, giá trị xuất khẩu NLTS chính sang Trung Quốc tăng 22,1%, Nhật Bản tăng 2%, trong khi Hoa Kỳ giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước.

Sự khác biệt này đang đặt ra yêu cầu rõ hơn về chiến lược thị trường. Trong khi Trung Quốc tiếp tục mở rộng vai trò đối với nhiều mặt hàng NLTS, Hoa Kỳ vẫn là thị trường có quy mô lớn nhưng đòi hỏi doanh nghiệp phải thích ứng tốt hơn với những yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn và thị trường.

Sự phân hóa cũng thể hiện rõ nhất khi nhìn vào từng ngành hàng chủ lực.

Với cà phê, khối lượng xuất khẩu tháng 8/2026 ước đạt 123,8 nghìn tấn, giá trị đạt 545,6 triệu USD. Lũy kế 8 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu 1,3 triệu tấn cà phê, trị giá 6 tỷ USD, tăng 13,1% về khối lượng nhưng giảm 9,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.

Giá cà phê xuất khẩu bình quân 8 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.538 USD/tấn, giảm 19,7% so với cùng kỳ năm 2025.

Đây là ví dụ điển hình cho nghịch lý tăng lượng nhưng giảm kim ngạch. Khối lượng xuất khẩu tăng mạnh chưa thể bù đắp tác động từ giá xuất khẩu bình quân giảm.

Đức, Italia và Nhật Bản là 3 thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt 13,2%, 8,2% và 7,1%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu cà phê 7 tháng đầu năm 2026 sang Đức giảm 17,4%, Italia giảm 1,2% và Nhật Bản giảm 7%.

Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Trung Quốc ghi nhận mức tăng mạnh nhất, tới 72,7%, trong khi Malayxia giảm mạnh nhất, ở mức 26,7%.

Nếu cà phê cho thấy áp lực từ giá, rau quả lại đang trở thành một điểm sáng nổi bật. Giá trị xuất khẩu hàng rau quả tháng 8/2026 ước đạt 1,24 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 8 tháng đầu năm lên 6,02 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2025.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường chủ lực, chiếm 58,9% tổng giá trị xuất khẩu rau quả. Hoa Kỳ và Hàn Quốc lần lượt chiếm 7,6% và 4,2%.

Trong 7 tháng đầu năm 2026, giá trị xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc tăng 33,1%, Hoa Kỳ tăng 14,4% và Hàn Quốc tăng 9,6%. Campuchia ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, với mức tăng 2,5 lần; trong khi TVQ Arập Thống Nhất giảm 38,7%.

Ở lĩnh vực thủy sản, giá trị xuất khẩu tháng 8/2026 ước đạt 1,08 tỷ USD, đưa tổng giá trị 8 tháng lên 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%.

Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản là 3 thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất, với thị phần lần lượt 24%, 15,6% và 13,7%. Trong 7 tháng đầu năm, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 37,1%, Hoa Kỳ tăng 2,5% và Nhật Bản tăng 2,3%.

Braxin có mức tăng mạnh nhất trong nhóm 15 thị trường, đạt 39,1%, trong khi Đức giảm 0,2%.

Đối với gỗ và sản phẩm gỗ, giá trị xuất khẩu tháng 8/2026 ước đạt 1,48 tỷ USD, đưa lũy kế 8 tháng lên 11,69 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2025.

Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm 49,9% thị phần. Trung Quốc và Nhật Bản lần lượt chiếm 15% và 12,4%.

Trong 7 tháng đầu năm, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Hoa Kỳ giảm 5,8%, trong khi Trung Quốc tăng 46,4% và Nhật Bản tăng 5,8%. Mêhicô tăng mạnh nhất, 2,1 lần; Ấn Độ giảm mạnh nhất, 30,3%.

Nhìn tổng thể, bức tranh xuất khẩu NLTS 8 tháng đầu năm 2026 cho thấy một xu hướng đáng chú ý: Tăng trưởng vẫn được duy trì, nhưng chất lượng tăng trưởng đang trở thành vấn đề quan trọng hơn.

Cà phê tăng 13,1% về lượng nhưng giảm 9,1% về giá trị; gạo giảm cả lượng và giá trị; trong khi hạt điều giảm lượng nhưng vẫn tăng giá trị. Ở chiều tích cực, rau quả và thủy sản đang tạo thêm động lực cho tăng trưởng.

Điều này cho thấy dư địa của xuất khẩu NLTS không chỉ nằm ở việc bán được nhiều hơn, mà ngày càng nằm ở khả năng bán được sản phẩm có giá trị cao hơn, tiếp cận đa dạng thị trường hơn và giảm mức độ phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.

Với gần 49,31 tỷ USD sau 8 tháng, mức tăng 7% đang tạo nền tảng quan trọng cho xuất khẩu NLTS cả năm 2026. Tuy nhiên, để biến tăng trưởng kim ngạch thành tăng trưởng bền vững, bài toán phía trước vẫn là nâng chất lượng sản phẩm, gia tăng giá trị, đa dạng hóa thị trường và nâng sức chống chịu trước biến động giá quốc tế.

Hà Sơn

Tin liên quan

Tin khác

Xuất khẩu xi măng Việt Nam "thăng hoa" tại thị trường Mỹ

Xuất khẩu xi măng Việt Nam "thăng hoa" tại thị trường Mỹ

Xuất khẩu đang trở thành “lối ra” chiến lược của ngành xi măng Việt Nam khi năng lực sản xuất trong nước vẫn vượt xa nhu cầu tiêu thụ. Nhưng phía sau những con số tăng trưởng về sản lượng đang xuất hiện một chuyển động đáng chú ý, đó là doanh nghiệp Việt không còn chỉ tìm thị trường để “xả công suất” mà đang từng bước tiến vào những thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn cao, trong đó Mỹ nổi lên như một phép thử quan trọng.
Xuất nhập khẩu lập kỷ lục, cán cân thương mại nhập siêu hơn 20 tỷ USD

Xuất nhập khẩu lập kỷ lục, cán cân thương mại nhập siêu hơn 20 tỷ USD

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 8 tháng năm 2026 đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Đáng chú ý, tốc độ tăng nhập khẩu tiếp tục nhanh hơn xuất khẩu và khu vực FDI tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn.
Đà Nẵng khơi thông vận tải xuyên biên giới

Đà Nẵng khơi thông vận tải xuyên biên giới

Tại Diễn đàn Logistics Quốc tế Đà Nẵng 2026, các chuyên gia tập trung nhận diện những điểm nghẽn trong vận tải xuyên biên giới, đồng thời đề xuất giải pháp tạo thuận lợi thương mại, nâng cao năng lực logistics và phát huy vai trò cửa ngõ của Đà Nẵng trên Hành lang kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Hồ tiêu Việt Nam: Từ lợi thế sản lượng đến cuộc chơi giá trị

Hồ tiêu Việt Nam: Từ lợi thế sản lượng đến cuộc chơi giá trị

7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu đạt gần 1,1 tỷ USD, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2025. Đằng sau con số tăng trưởng là một chuyển động đáng chú ý đó là ngành hồ tiêu Việt Nam đang từng bước rời khỏi tư duy chạy theo sản lượng để chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng, chế biến và giá trị gia tăng.
Mở không gian phát triển mới  cho kinh tế biển

Mở không gian phát triển mới cho kinh tế biển

Việc TP. Hồ Chí Minh quyết định xây dựng Khu thương mại tự do (FTZ) Cái Mép Hạ không chỉ mở rộng không gian phát triển kinh tế biển mà còn đánh dấu bước chuyển từ tư duy phát triển dựa trên lợi thế cảng biển sang xây dựng hệ sinh thái logistics, thương mại và dịch vụ giá trị gia tăng cao. Nếu được triển khai hiệu quả, FTZ sẽ trở thành nền tảng giúp thành phố nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
FDI tăng mạnh, bài toán là chất lượng dòng vốn

FDI tăng mạnh, bài toán là chất lượng dòng vốn

Dòng vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh. Tuy nhiên, yêu cầu quan trọng hơn là dòng vốn đó mang theo công nghệ gì, tạo ra năng lực thế nào và giúp doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn ra sao để thực hiện những bước chuyển mà Nghị quyết 10-NQ/TW đặt ra.
Thủy sản Việt tìm động lực tăng trưởng từ công nghệ và thị trường nội địa

Thủy sản Việt tìm động lực tăng trưởng từ công nghệ và thị trường nội địa

Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh dựa vào sản lượng và xuất khẩu, thủy sản Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển sang mô hình tạo giá trị cao hơn. Công nghệ, chế biến sâu, minh bạch chuỗi cung ứng và khai thác thị trường gần 100 triệu dân được xem là những động lực quan trọng để ngành hướng tới mục tiêu xuất khẩu 12 tỷ USD và tăng trưởng bền vững.
Hàng Việt trước cuộc chơi mới của chuỗi cung ứng toàn cầu

Hàng Việt trước cuộc chơi mới của chuỗi cung ứng toàn cầu

Dù phải đối mặt với rào cản thuế quan và những quy định kỹ thuật ngày càng khắt khe, Việt Nam vẫn đang khẳng định vị thế là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Năng lực sản xuất ngày càng được cải thiện, chi phí cạnh tranh và khả năng đáp ứng những đơn hàng lớn tiếp tục là những lợi thế giúp hàng Việt được các thị trường Mỹ, EU và nhiều đối tác quốc tế lựa chọn.
Vào thị trường Mỹ: Cơ hội lớn, phép thử không nhỏ

Vào thị trường Mỹ: Cơ hội lớn, phép thử không nhỏ

Dư địa tại thị trường Hoa Kỳ còn rộng mở đối với doanh nghiệp Việt Nam, song cơ hội ngày càng đi kèm những yêu cầu khắt khe về dòng tiền, thuế, pháp lý, sở hữu trí tuệ và truy xuất nguồn gốc. Muốn đi đường dài, doanh nghiệp không chỉ cần sản phẩm đủ sức cạnh tranh mà phải coi năng lực tuân thủ và quản trị tài chính là điều kiện để gia nhập và đứng vững trên thị trường.
Nhìn từ “cơn khát” đầu vào cho tăng trưởng

Nhìn từ “cơn khát” đầu vào cho tăng trưởng

Bảy tháng năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam đảo chiều mạnh từ xuất siêu sang nhập siêu hơn 20 tỷ USD. Tuy nhiên, với 94,1% kim ngạch nhập khẩu là tư liệu sản xuất, câu chuyện không chỉ nằm ở mức thâm hụt, mà còn phản ánh nhịp chuẩn bị cho tăng trưởng phía sau.