Chỉ số kinh tế:
Ngày 1/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.624 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.393/26.855 đồng/USD. Kinh tế tháng 8/2026 ghi nhận nhiều chuyển động đáng chú ý khi IIP tăng 1,5% so với tháng trước, số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8 tăng 1,0%. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có xu hướng giảm, với gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 14,4%; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5%; 5.322 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0%; 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1%, trong khi 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng, chi 238,1 nghìn tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1%; trong đó xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2%, nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, cán cân thương mại nhập siêu 0,12 tỷ USD. CPI tăng 0,47%, trong khi chỉ số giá vàng giảm 0,65% và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38%. Vận tải hành khách đạt 658,6 triệu lượt khách, vận tải hàng hóa đạt 324,0 triệu tấn; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Nâng tầm ngành gỗ từ vùng nguyên liệu bền vững

Trà Giang
Trà Giang  - 
Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, phát triển vùng nguyên liệu bền vững gắn với thị trường tín chỉ carbon đang mở ra dư địa tăng trưởng mới cho ngành gỗ.
aa
Doanh nghiệp ngành gỗ tìm hướng đi đường dài Ngành gỗ Việt chuyển đổi sản xuất sang kỷ nguyên dữ liệu và minh bạch Ngành gỗ chuyển từ lượng sang chất để tăng khả năng cạnh tranh xuất khẩu
Nâng tầm ngành gỗ từ vùng nguyên liệu bền vững
Ảnh minh họa

Gỡ “điểm nghẽn” vùng nguyên liệu để nâng cao chuỗi giá trị

Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ấn tượng. Theo số liệu của Cục Hải quan (Bộ Tài chính), năm 2025, xuất khẩu gỗ vượt mốc 17 tỷ USD, đưa Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm các quốc gia xuất khẩu gỗ lớn nhất thế giới. 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu đạt 8,6 tỷ USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực là bài toán ngày càng cấp bách về nguồn nguyên liệu. Khi năng lực chế biến liên tục được mở rộng, nhu cầu gỗ nguyên liệu tăng nhanh, trong khi khả năng cung ứng trong nước chưa theo kịp đã khiến cạnh tranh thu mua diễn ra ngày càng gay gắt. Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp trong từng phân khúc đều có nhu cầu về những loại nguyên liệu khác nhau. Trong khi doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất cần nguồn gỗ lớn phục vụ chế biến sâu thì ngành dăm gỗ, viên nén hay ván nhân tạo lại chủ yếu sử dụng gỗ nhỏ và phụ phẩm. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp cùng cạnh tranh một nguồn nguyên liệu từ rừng trồng, đặc biệt là keo và bạch đàn.

Không chỉ cạnh tranh giữa các ngành hàng, sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch vùng nguyên liệu và quy hoạch công nghiệp chế biến cũng tạo ra tình trạng mất cân đối cung - cầu tại nhiều địa phương. Những doanh nghiệp chủ động liên kết với hộ trồng rừng để xây dựng vùng nguyên liệu ổn định có lợi thế rõ rệt, trong khi nhiều doanh nghiệp nhỏ gặp khó khăn trong việc bảo đảm nguồn cung lâu dài.

Đánh giá về thực trạng này, ông Phùng Quốc Mẫn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Chủ tịch HAWA cho rằng, thành công về xuất khẩu chưa đồng nghĩa với phát triển bền vững. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở sự thiếu gắn kết giữa vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến. “Xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ giữa người trồng rừng, doanh nghiệp chế biến và chính quyền địa phương không chỉ giúp ổn định nguồn cung nguyên liệu mà còn nâng cao chất lượng gỗ, tạo nền tảng để ngành gỗ chuyển mạnh sang chế biến sâu và gia tăng giá trị”, ông Phùng Quốc Mẫn nhấn mạnh.

Ở góc độ nghiên cứu, TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc Chương trình Chính sách Lâm nghiệp, Thương mại và Tài chính của Forest Trends cho biết, Việt Nam hiện có khoảng 4,9 triệu ha rừng trồng, trong đó khoảng 4,1 triệu ha là rừng sản xuất - nguồn cung nguyên liệu chủ yếu cho ngành chế biến gỗ. Tuy nhiên, sau hơn hai thập kỷ phát triển rừng gỗ lớn, kết quả vẫn chưa đạt như kỳ vọng khi người trồng rừng chưa có đủ động lực kinh tế để kéo dài chu kỳ khai thác, trong khi doanh nghiệp chế biến sâu tại vùng nguyên liệu còn thiếu.

Từ thực tế đó, TS. Tô Xuân Phúc đề xuất, cần chuyển từ tư duy phát triển đơn lẻ sang quy hoạch vùng nguyên liệu theo từng vùng sinh thái, lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp với từng loại hình chế biến, đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, hiệp hội và địa phương nhằm hình thành chuỗi cung ứng ổn định, giảm cạnh tranh thiếu bền vững trong thu mua nguyên liệu.

Thị trường carbon mở ra dư địa tăng trưởng mới

Nếu liên kết vùng nguyên liệu là điều kiện để bảo đảm nguồn cung ổn định thì các tiêu chuẩn xanh và thị trường tín chỉ carbon đang mở ra một động lực tăng trưởng mới cho ngành gỗ. Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chống mất rừng và giảm phát thải, phát triển lâm nghiệp bền vững không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là cơ hội để nâng cao giá trị sản phẩm. Các thị trường lớn không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn đặt ra yêu cầu cao về nguồn gốc hợp pháp của gỗ, khả năng truy xuất, chứng chỉ quản lý rừng bền vững và mức phát thải carbon trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để ngành gỗ tái cấu trúc theo hướng phát triển bền vững.

Ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhận định, thách thức lớn nhất hiện nay không phải là thiếu thị trường, mà là năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế. Doanh nghiệp thích ứng nhanh với các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chống mất rừng và giảm phát thải sẽ có lợi thế tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, thị trường tín chỉ carbon được đánh giá sẽ mở ra không gian tăng trưởng mới cho ngành gỗ. Việc kéo dài chu kỳ khai thác, phát triển rừng gỗ lớn và áp dụng các biện pháp quản lý rừng bền vững không chỉ nâng cao chất lượng nguyên liệu phục vụ chế biến sâu mà còn tạo thêm nguồn thu từ tín chỉ carbon.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, ông Nguyễn Văn Diện cho rằng, cần đồng thời đẩy mạnh quy hoạch vùng nguyên liệu đạt chuẩn, mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ quản lý bền vững, tăng cường liên kết giữa người trồng rừng với doanh nghiệp chế biến và thúc đẩy đầu tư vào công nghệ chế biến sâu. Khi vùng nguyên liệu được phát triển theo hướng bền vững và gắn kết chặt chẽ với công nghiệp chế biến, ngành gỗ sẽ không chỉ giải quyết bài toán nguồn cung mà còn nâng cao giá trị sản phẩm, tận dụng hiệu quả cơ hội từ thị trường tín chỉ carbon và các xu hướng tiêu dùng xanh trên thế giới.

Theo các chuyên gia, dư địa tăng trưởng của ngành gỗ trong giai đoạn tới sẽ không còn đến từ việc mở rộng quy mô xuất khẩu đơn thuần mà phụ thuộc vào khả năng nâng cao chất lượng tăng trưởng. Phát triển vùng nguyên liệu bền vững, củng cố liên kết giữa người trồng rừng và doanh nghiệp chế biến, đồng thời khai thác hiệu quả giá trị từ tín chỉ carbon sẽ là nền tảng để ngành gỗ chuyển từ lợi thế về sản lượng sang lợi thế về giá trị. Đây cũng là con đường để ngành gỗ Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thích ứng với các tiêu chuẩn xanh và khẳng định vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Trà Giang

Tin liên quan

Tin khác

Triển vọng kinh tế Việt Nam qua dự báo của các tổ chức quốc tế

Triển vọng kinh tế Việt Nam qua dự báo của các tổ chức quốc tế

Các tổ chức, định chế tài chính quốc tế gần đây tiếp tục đưa ra đánh giá tích cực về triển vọng kinh tế Việt Nam, song mức dự báo tăng trưởng năm 2026 đang khá phân hóa, từ khoảng 7,5% đến 9,5%. Trong đó, Standard Chartered hiện nằm ở nhóm lạc quan nhất khi dự báo GDP quý III tăng 8,7% và cả năm đạt 9,5%.
Việt Nam tăng một bậc trên bảng xếp hạng đổi mới sáng tạo toàn cầu

Việt Nam tăng một bậc trên bảng xếp hạng đổi mới sáng tạo toàn cầu

Việt Nam xếp thứ 43/139 quốc gia, nền kinh tế trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026, tăng một bậc so với năm trước. Đáng chú ý, nhóm chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo tăng hai bậc, từ vị trí 37 lên 35. Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân, kết quả này gắn với việc gia tăng nguồn lực, từng bước hoàn thiện chính sách và sự tham gia ngày càng rõ nét của các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Thúc đẩy liên kết vùng: Từ phối hợp sang cùng kiến tạo

Thúc đẩy liên kết vùng: Từ phối hợp sang cùng kiến tạo

Liên kết vùng đang chuyển từ những chương trình hợp tác, dự án riêng lẻ sang hình thành chuỗi giá trị, hành lang kinh tế và không gian phát triển thống nhất. Yêu cầu này càng rõ nét khi liên kết vùng không còn là lựa chọn mà trở thành điều kiện quan trọng để mở rộng không gian tăng trưởng.
Sở hữu trí tuệ - yếu tố quan trọng để tự chủ chiến lược và cạnh tranh quốc tế

Sở hữu trí tuệ - yếu tố quan trọng để tự chủ chiến lược và cạnh tranh quốc tế

Sở hữu trí tuệ được đặt vào vị trí mới trong chiến lược phát triển, không chỉ là công cụ bảo hộ thành quả sáng tạo mà còn là nguồn lực quốc gia, gắn với tự chủ công nghệ, năng lực cạnh tranh và vị thế của Việt Nam trong thương mại quốc tế.
Làm chủ vật liệu, mở khóa năng lực tự chủ của nền kinh tế

Làm chủ vật liệu, mở khóa năng lực tự chủ của nền kinh tế

Từ bán dẫn, đất hiếm đến pin năng lượng, làm chủ vật liệu đang trở thành yêu cầu cấp thiết để Việt Nam nâng sức cạnh tranh và tự chủ chiến lược.
Theo sát “dấu chân carbon”, mở dư địa phát triển bền vững

Theo sát “dấu chân carbon”, mở dư địa phát triển bền vững

Từ ngày 25/9/2026, có 2.441 cơ sở phát thải khí nhà kính thuộc diện phải thực hiện kiểm kê theo Quyết định 42/2026/QĐ-TTg. Yêu cầu mới không chỉ đặt ra bài toán tuân thủ mà còn thúc đẩy quản trị carbon gắn chặt hơn với sản xuất, đầu tư và tiếp cận thị trường, qua đó tạo động lực đổi mới công nghệ, sử dụng hiệu quả nguồn lực và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bãi đỗ xe Hà Nội trước bài toán tích hợp trạm sạc

Bãi đỗ xe Hà Nội trước bài toán tích hợp trạm sạc

Hà Nội cần thêm chỗ đỗ xe, đồng thời phải chuẩn bị hạ tầng cho phương tiện điện. Nhưng một bãi đỗ tích hợp trạm sạc không thể chỉ chọn theo quỹ đất: năng lực cấp điện, an toàn, chi phí và thủ tục đầu tư đều phải được tính từ đầu.
Hạ tầng logistics: Cần chuyển từ đầu tư riêng lẻ sang kết nối theo dòng hàng

Hạ tầng logistics: Cần chuyển từ đầu tư riêng lẻ sang kết nối theo dòng hàng

Hạ tầng logistics Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể, song điểm nghẽn lớn vẫn nằm ở khả năng kết nối và tổ chức khai thác.
Triển vọng kinh tế Việt Nam:  Động lực nào cho chặng cuối năm?

Triển vọng kinh tế Việt Nam: Động lực nào cho chặng cuối năm?

Sau những kết quả tăng trưởng tích cực nửa đầu năm, động lực nào sẽ tiếp tục dẫn dắt nền kinh tế và dư địa chính sách còn lại bao nhiêu trong những tháng cuối năm và năm tới? Theo các chuyên gia ADB, triển vọng đã cải thiện rõ rệt, song bài toán cân bằng giữa tăng trưởng, lạm phát và ổn định vĩ mô cũng ngày càng hiện hữu.
Cần thước đo mới cho chất lượng tăng trưởng

Cần thước đo mới cho chất lượng tăng trưởng

Tăng trưởng GDP cao là điều kiện quan trọng để Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát triển. Với mục tiêu tăng trưởng hai con số được đặt ra giai đoạn tới, yêu cầu song hành là phải đo được năng suất, giá trị gia tăng, chất lượng việc làm, thu nhập và sức chống chịu của nền kinh tế.