Ngành công nghiệp thực phẩm: Áp lực cạnh tranh trước doanh nghiệp ngoại

07:36 | 23/12/2019

Các DN cần tăng cường đầu tư, đổi mới công nghệ, dây chuyền sản xuất, áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến, quản lý chặt chẽ về chất lượng, an toàn thực phẩm trong nuôi, trồng, sản xuất và chế biến nông sản.

Cơ hội cho ngành công nghiệp thực phẩm
Thời của ngành công nghiệp thực phẩm Việt
Công nghiệp thực phẩm: Đầu tư vào Việt Nam để vươn ra toàn cầu

Chế biến thực phẩm được xem là một trong bốn ngành công nghiệp trọng yếu được đầu tư phát triển của TP.HCM. Hầu hết các DN có thương hiệu, uy tín trong ngành công nghiệp thực phẩm, đồ uống của Việt Nam đều tập trung ở đây và số lượng DN kinh doanh trong lĩnh vực này tại địa bàn cũng tăng trưởng khá nhanh, bình quân tăng 13,7%/năm trong 5 năm qua.

Các DN thực phẩm cần những đột phá lớn

Theo khảo sát của Công ty cổ phần báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report), nhiều thương hiệu Việt tiêu biểu được người tiêu dùng lựa chọn như Vissan (thực phẩm tươi sống), mỳ Hảo Hảo - Acecook (thực phẩm ăn liền), Vinamilk (sữa), Bibica (bánh kẹo)... cho thấy sự phát triển của ngành chế biến lương thực thực phẩm trong thời gian qua. Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế nhận định, các DN ngành chế biến thực phẩm Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng cũng đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn vì đang có áp lực cạnh tranh cao và ngày càng gay gắt từ các DN nước ngoài.

Thực vậy, với ưu thế về quy mô, công nghệ, tiềm lực tài chính dồi dào, cùng với những ưu đãi về thuế quan, các rào cản thương mại bị xóa bỏ khi hội nhập… các DN nước ngoài sẽ tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có và nguồn nhân công giá rẻ để đầu tư xây dựng nhà máy, cơ sở sản xuất tại Việt Nam. Các DN trong nước sẽ đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt về chất lượng sản phẩm, giá cả, thương hiệu... với các DN nước ngoài chính trên “sân nhà”.

Bà Lý Kim Chi, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực TP.HCM cho biết trong thời gian qua, mặc dù Chính phủ đã có nhiều chính sách tốt hỗ trợ DN ngành chế biến lương thực thực phẩm phát triển, nhưng đến nay vẫn còn một số cơ quan, bộ ngành còn tình trạng chây ì, trên nóng dưới lạnh, nhũng nhiễu, gây rất nhiều khó khăn cho DN, làm giảm khả năng cạnh tranh của DN. Song song với đó, năng lực của phần đông các DN trong ngành còn khá hạn chế về công nghệ, về quản lý, nhất là trong bối cảnh CMCN 4.0 và thông tin đa chiều như hiện nay.

Một thực tế khác là mặc dù Việt Nam có nguồn nguyên liệu rất dồi dào, sản lượng xuất khẩu lớn nhưng nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước không ổn định về chất lượng và số lượng, tình trạng nguyên liệu khi dôi thừa, khi thiếu vẫn còn thường xuyên diễn ra. Nguyên nhân xuất phát từ việc chưa thiết lập được quy hoạch vùng nguyên liệu vùng cụ thể; Nhất là cần có sự liên kết rõ ràng với các tỉnh về quy hoạch sản xuất, ổn định và cân đối nguồn nguyên liệu cho ngành chế biến lương thực, thực phẩm theo đúng nhu cầu và định hướng phát triển. Vì vậy, nhiều DN chế biến lương thực thực phẩm phải nhập nguyên liệu thường xuyên như ngành chế biến sữa phải nhập đến 60% nguyên liệu hay trên 90% nguyên liệu của ngành chế biến dầu ăn là ngoại nhập.

Bên cạnh đó, thị phần tiêu thụ của các DN trong nước ngày càng bị thu hẹp do thị trường bán lẻ hiện đang dần bị thâu tóm bởi các DN ngoại. Điều này cho phép các DN ngoại chủ động trong việc thu mua, buôn bán theo chuỗi, tận dụng lợi thế chuỗi để giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh. Do vậy, cơ hội bán hàng của DN trong nước vào chuỗi bán lẻ này sẽ rất khó.

Mặc dù TP.HCM đã ban hành và triển khai nhiều chương trình, chính sách có tác động mạnh, khuyến khích DN phát triển như cải cách tối đa thủ tục hành chính, hỗ trợ sản phẩm công nghiệp chủ lực, hỗ trợ các kênh xúc tiến thương mại… Thế nhưng nhìn chung, chỉ số sản xuất công nghiệp trong ngành lương thực, thực phẩm lại đang có dấu hiệu chững lại. Nguyên nhân là nhiều công ty chế biến thực phẩm đang có xu hướng dịch chuyển đầu tư cơ sở sản xuất, chế biến về các tỉnh lân cận để tận dụng lợi thế về giá thuê đất, dẫn đến chỉ số sản xuất của ngành giảm xuống. Những DN đã dịch chuyển như CTCP Uniben, CTCP Thực phẩm CJ Cầu Tre, CTCP Sữa Việt Nam.

Gỡ khó những vấn đề trước mắt cho các DN, ông Phạm Thiết Hòa, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM cho biết trong thời gian tới, Trung tâm sẽ hỗ trợ các DN xuất khẩu giải quyết những vấn đề như xây dựng, phát triển thương hiệu; cung cấp thông tin, khảo sát thị trường; nâng cao năng lực cạnh tranh, liên kết, kết nối DN với các đối tác, liên kết chuỗi phục vụ xuất khẩu, đơn giản hóa thủ tục, các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu hiệu quả... Bên cạnh đó, các DN cần tăng cường đầu tư, đổi mới công nghệ, dây chuyền sản xuất, áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến, quản lý chặt chẽ về chất lượng, an toàn thực phẩm trong nuôi, trồng, sản xuất và chế biến nông sản.

Minh Lâm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950