Nhà thầu xây dựng than khó vì giá vật liệu tăng cao

09:54 | 14/05/2021

Giá vật liệu xây dựng tăng tác động chung lên cả nền kinh tế, dẫn theo giá thành sản phẩm bất động sản tăng theo.

Thời điểm hiện tại, trên thị trường giá nhiều loại vật liệu xây dựng như cát vàng, đá, sắt xây dựng đã tăng mạnh so với năm 2020. Cụ thể, giá thép Hoà Phát loại phi 22 hiện nay lên 463 nghìn đồng/cây, tăng 65% so với tháng 6/2020. Còn Thép Việt Nhật phi 22 giá 489 nghìn đồng/cây, cao hơn 96 nghìn đồng, tăng khoảng 24% so với tháng 6/2020, hiện có giá 393 nghìn đồng /cây.

Theo Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam (VACC), nhiều nhà thầu xây dựng cả nước đang đứng trước nguy cơ phá sản do tình hình giá thép tăng đột biến trong quý I/2021, đặc biệt ở tháng 4. Theo VACC, giá thép phi 6 Việt Mỹ trong quý IV/2020 là 13.145 đồng/kg thì hiện mức giá của mặt hàng này ở Đà Nẵng là 18.370 đồng/kg, tăng tới 40%. Trong khi đó, giá thép do Sở Xây dựng Đà Nẵng công bố với nhà thầu áp dụng để thanh quyết toán vẫn chỉ là 13.805 đồng/kg. Không riêng thép Việt Mỹ mà tất cả các thương hiệu thép đều đồng loạt tăng giá từ 30-40% so với quý cuối năm trước. Hiện sắt, thép chiếm khoảng 20% tỷ lệ vật liệu xây dựng nhưng giá bán lại đang “đội” lên tới 40% khiến các doanh nghiệp xây dựng gặp khó. Nhiều đơn vị đã phải tạm giãn tiến độ thi công để nghe ngóng thị trường. Theo tính toán, chi phí mua thép xây dựng chiếm khoảng 28% chi phí xây dựng một căn hộ chung cư và khoảng 35% chi phí xây dựng một căn nhà liền kề. Do đó, giá thép tăng như hiện nay sẽ tác động tiêu cực lên giá bán trong thời gian tới.

nha thau xay dung than kho vi gia vat lieu tang cao
Giá nguyên vật liệu tăng dẫn đến giá nhà đang ở mức cao

Ông Nguyễn Quốc Hiệp - Chủ tịch VACC cho biết, hiện các nhà thầu xây dựng đều vấp phải khó khăn, chưa có cách tháo gỡ do các chủ đầu tư đa số đều sử dụng loại hợp đồng đơn giá cố định không điều chỉnh ở thời điểm ký. Vì vậy, các nhà thầu phải tự giải quyết sự thâm hụt này, còn các dự án đầu tư vốn ngân sách thì lại phải áp dụng đơn giá vật liệu theo thông báo của các Sở Xây dựng mà các thông báo này lại không cập nhật biến động giá kịp thời.

Đại diện một nhà thầu phía Nam chia sẻ, doanh nghiệp rất khó khăn trong việc thương lượng với các chủ đầu tư theo hình thức trượt giá, đa số đều yêu cầu ký đơn giá cố định. Thị trường biến động liên tục nên doanh nghiệp cũng gặp khó khăn trong việc quyết định mức giá cố định phù hợp để chào thầu tại thời điểm đang đàm phán. Chính vì vậy, quá trình đàm phán bị kéo dài, hai bên khó đi đến thỏa thuận chung. Thậm chí, tình hình còn nặng nề hơn với các hợp đồng đã ký, bởi việc thương lượng điều chỉnh giá đã chốt theo mức giá tăng của thị trường càng khó khăn. Bên cạnh đó, tình hình khan hiếm vật liệu xây dựng cũng là một vấn đề lớn, ảnh hưởng đến tiến độ và mức giá các dự án. Chính các nhà cung cấp cũng không thể đưa ra mức giá tốt hay giữ giá cố định trong một khoảng thời gian cho doanh nghiệp.

Không chỉ có thép, xi măng cũng tăng giá theo. Theo Hiệp hội Xi măng Việt Nam, từ tháng 4, nhiều doanh nghiệp sản xuất xi măng đã điều chỉnh mức giá sản phẩm bán ra với biên độ tăng giá 30- 40 nghìn đồng/tấn. Xi măng Xuân Thành, Duyên Hà, Hoàng Long, Long Sơn tăng 40 nghìn đồng /tấn, trong khi các thương hiệu thuộc Vicem (Vicem Bỉm Sơn, Vicem Hoàng Mai…) tăng 30 nghìn đồng/tấn. Các doanh nghiệp xi măng cho rằng, do chi phí đầu vào như điện, than, xăng dầu, giá cước vận chuyển và giá nhân công tăng, nên không thể duy trì giá bán cũ. Chi phí đầu vào tăng cao, đặc biệt là giá thành vỏ bao. Để đảm bảo chi phí trong quá trình sản xuất của nhà máy, doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh tăng thêm 30 nghìn đồng/tấn cho tất cả các loại xi măng, đã bao gồm VAT.

Theo ông Nguyễn Quốc Hiệp, giá thép xây dựng nói riêng và giá vật liệu xây dựng nói chung tăng cao trong thời gian ngắn vừa qua là cú đấm bồi vào các doanh nghiệp vốn đã rất khó khăn do tác động của dịch bệnh Covid-19. Từ năm 2020 đến nay, các doanh nghiệp xây dựng đã phải gồng mình duy trì hoạt động và giữ chân nhân sự. Đồng thời, nhiều nhà thầu còn bị chủ đầu tư không chịu nghiệm thu, thanh toán cho nhà thầu trong khi dự án vốn đã được nghiệm thu để bán và đưa vào sử dụng. Với nhiều khó khăn chồng chất cộng với việc giá vật liệu xây dựng nói chung và giá thép xây dựng tăng cao nếu không sớm tìm được hướng tháo gỡ thì có thể nói các nhà thầu sẽ sớm lâm vào bế tắc.

Giá vật liệu xây dựng tăng tác động chung lên cả nền kinh tế, dẫn theo giá thành sản phẩm bất động sản tăng theo.

Mới đây, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái vừa có ý kiến về định hướng công tác điều hành giá những tháng còn lại năm 2021. Liên quan đến tình trạng giá thép tăng cao, Phó thủ tướng giao Bộ Công thương nghiên cứu, có các biện pháp thúc đẩy tăng năng lực sản xuất thép thành phẩm, hướng tới đáp ứng được cơ bản nhu cầu trong nước. Các bộ phải nghiên cứu điều chỉnh sự mất cân đối cung ứng sản phẩm thép để ưu tiên thị trường trong nước thông qua việc điều chỉnh, cân đối khối lượng xuất khẩu. Về phía Bộ Xây dựng, Phó Thủ tướng yêu cầu phải có hướng dẫn thay đổi công nghệ xây dựng nhằm giảm tải lượng thép tiêu thụ trong các công trình.

Hải Yến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.810 23.040 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.840 23.040 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.820 23.040 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.840 23.020 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.020 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.835 23.050 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.820 23.035 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.020 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.870 23.020 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.650
57.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.650
57.350
Vàng SJC 5c
56.650
57.370
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.700
51.400