Nhà vườn “khóc ròng” vì trái cây bí đầu ra

08:19 | 05/11/2021

Mặc dù dịch Covid-19 đã cơ bản được kiểm soát phần, nhưng nhìn chung tiêu thụ nông sản trên địa bàn vẫn còn khó khăn. Chuỗi tiêu thụ nhiều loại nông sản có hiện tượng đứt gãy cục bộ, nhất là đối với hàng hoá do người dân sản xuất riêng lẻ, tiêu thụ qua thương lái và chợ đầu mối.

nha vuon khoc rong vi trai cay bi dau ra Kết nối nông sản các địa phương tới Hà Nội
nha vuon khoc rong vi trai cay bi dau ra Mở đường cho nông sản Việt vào thị trường EU
nha vuon khoc rong vi trai cay bi dau ra Định danh nông sản để nâng cao giá trị cạnh tranh

Theo thông tin từ một số Sở Y tế các tỉnh miền Tây Nam bộ, số lượng ca F0 tại các địa phương này hiện nay vẫn đang tăng nhanh, tình hình dịch bệnh vẫn đang diễn biến rất phức tạp.

Dịch bệnh đã kéo theo vấn đề khó khăn nhất hiện nay của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là việc tiêu thụ sản phẩm nông sản của địa phương, vận chuyển đi các tỉnh thành khác hoặc đến các nhà máy làm nguyên liệu chế biến xuất khẩu. Việc “bí” đầu ra, khó tiêu thụ khiến cho giá nông sản, trái cây rớt thê thảm. Đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre cho biết, hiện nay, các loại nông sản, trái cây đang được nông dân bán cho thương lái với mức giá giảm gần 50% so với hồi đầu năm và đây là mức giá thấp nhất trong nhiều năm qua.

nha vuon khoc rong vi trai cay bi dau ra
Ảnh minh họa

Cụ thể, tại Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long… bưởi da xanh hàng tuyển lựa loại 1 các chủ vườn bán buôn cho thương lái và các vựa thu mua trái cây với giá từ 15.000-18.000 đồng/kg. Còn bưởi da xanh đồng loại (trọng lượng từ 1kg/trái trở lên) nhiều nhà vườn bán xô ngay tại vườn chỉ từ 10.000-12.000 đồng/kg (hồi đầu năm giá trên dưới 20.000 đồng/kg). Trong khi đó, sản phẩm cùng loại đang được bán lẻ tại điểm kinh doanh trái cây với giá 30.000-35.000 đồng/kg, còn giá bán tại nhiều siêu thị và cửa hàng tự chọn ở mức cao hơn từ 40.000-55.000 đồng/kg.

Tương tự, ở nhiều nơi được ví là “vựa” nông sản của cả nước, nhiều loại trái cây như chôm chôm, bưởi, măng cụt, cam sành… giá giảm từ 40% - hơn 50% so với cùng kỳ năm trước. Thậm chí như cam sành, thương lái mua xô chỉ với giá 5.000 đồng/kg và dự đoán sẽ tiếp tục giảm giá mạnh, bởi đang bước vào giai đoạn thu hoạch rộ, trong khi thị trường tiêu thụ lại bị hạn chế do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19. Trong khi đó, chôm chôm Java và chôm chôm Thái thời gian trước bán được giá thì hiện tại giá chôm chôm Java bán tại vườn chỉ còn 6.000 đồng/kg, giảm 10.000 đồng/kg so cùng kỳ năm trước; chôm chôm Thái có giá 15.000 đồng/kg, giảm 10.000 - 18.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước, thậm chí có thời điểm chỉ còn 5.000 đ/kg. Đây có thể coi là mức giá giảm sâu nhất trong vòng 7 năm qua. Thậm chí có thời điểm không có thương lái đến thu mua do thực hiện giãn cách xã hội, chủ vườn buộc lòng để trái cây chín rụng đầy vườn, thối bỏ chứ không có cách nào.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn một số tỉnh khu vực ĐBSCL, nguyên nhân khiến giá trái cây giảm thấp do đầu ra gặp khó vì ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 và sức tiêu thụ tại thị trường nội địa cũng khá chậm dù nhiều địa phương đã có những chính sách hỗ trợ người trồng. Từ nay đến cuối năm, nhiều tỉnh thành cần tiêu thụ thêm hàng triệu tấn lúa, rau và trái cây các loại. Chỉ tính riêng trong một tháng, các tỉnh ĐBSCL cần tiêu thụ 2 triệu tấn lúa, khoảng 400.000 tấn trái cây các loại và 250.000 tấn rau. Bên cạnh đó, các loại trái cây theo mùa vụ hoặc xuất khẩu với sản lượng lớn như thanh long, xoài, cam mỗi loại 35.000 tấn, bưởi 40.000 tấn, chuối 50.000 tấn… cũng cần giải quyết đầu ra một cách hiệu quả.

Chuyên gia nhận định, mặc dù dịch Covid-19 đã cơ bản được kiểm soát phần, nhưng nhìn chung tiêu thụ nông sản trên địa bàn vẫn còn khó khăn. Chuỗi tiêu thụ nhiều loại nông sản có hiện tượng đứt gãy cục bộ, nhất là đối với hàng hoá do người dân sản xuất riêng lẻ, tiêu thụ qua thương lái và chợ đầu mối. Thêm vào đó, chi phí lưu thông hàng hóa tăng 3-4 lần so với trước khi có dịch đã dẫn đến tình trạng nông dân khó tìm đầu ra và phải bán nông sản với giá rất thấp nhưng người mua lại phải trả với giá rất cao.

Để khắc phục tình trạng này, trước đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề nghị các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lập tổ công tác của từng tỉnh để kết nối tháo gỡ các vấn đề về sản xuất, tiêu thụ nông sản trên địa bàn, phối hợp các địa phương thúc đẩy việc lưu thông, tiêu thụ nông sản giữa các tỉnh, thành trong khu vực, không để đứt gãy chuỗi cung ứng nông sản trong thời gian phòng, chống dịch. Tuy nhiên để đẩy mạnh việc tiêu thụ nông sản, thủy sản của khu vực, Chính phủ và các bộ, ngành cần sớm có giải pháp hỗ trợ tài chính, tín dụng cho các doanh nghiệp thu mua, chế biến số lượng lớn mới có thể giải quyết được đầu ra nhanh chóng cho các vùng nguyên liệu hiện nay. Về lâu dài, cần xây dựng sàn giao dịch thu mua nông sản, thủy sản cho khu vực ĐBSCL.

Phương Nam

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.235 23.535 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.270 23.790 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.249 23.535 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
67.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
67.100
Vàng SJC 5c
66.100
67.120
Vàng nhẫn 9999
52.300
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.800