“Nút thắt cổ chai” của FTAs với ngành dệt may Việt Nam

10:25 | 30/06/2020

Đến nay, Việt Nam đã ký và đang đàm phán 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA). Việc ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTAs) được xem là mang lại cho ngành dệt may nhiều lợi thế cạnh tranh xuất khẩu. Tuy nhiên, theo số liệu khảo sát, tỷ lệ tận dụng các lợi thế từ FTA của ngành tại Việt Nam vẫn còn ở mức thấp và mới tồn tại ở mặt lý thuyết.

nut that co chai cua ftas voi nganh det may viet nam Ngành Dệt may Việt Nam: Từng bước chủ động nguồn nguyên liệu
nut that co chai cua ftas voi nganh det may viet nam Ngành dệt may Việt Nam: Nỗ lực vượt khó
nut that co chai cua ftas voi nganh det may viet nam Thúc đẩy sản xuất bền vững ngành dệt may Việt Nam
nut that co chai cua ftas voi nganh det may viet nam
Ảnh minh hoạ

Đây là kết quả của chương trình nghiên cứu chiến lược Mekong – Trung Quốc (MCSS) hôm 29/6 được công bố tại hội thảo “Dệt may Việt Nam: Tác động của Covid-19 và xa hơn nữa”. Báo cáo đã chỉ ra một loạt khó khăn của ngành dệt may Việt Nam liên quan đến các FTA (song phương và đa phương).

Đến năm 2020, Việt Nam đã có 12 FTA có hiệu lực, 1 FTA đợi Quốc hội phê chuẩn và đang đàm phán 3 FTA khác. Việc ký kết các FTA hứa hẹn mang lại cho ngành dệt may nhiều ưu thế cạnh tranh khi xuất khẩu.

Chẳng hạn, thuế suất áp dụng đối với ngành dệt và nguyên liệu, với ngành may trung bình là 0 – 5% (trong khi đó theo quy chế của WTO). Đối với ngành dệt và nguyên liệu thuế suất trung bình là 12% và với ngành may mặc là 25%).

Mặc dù lợi ích lớn như vậy, nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ tận dụng các FTA của Việt Nam chỉ đạt trung bình 30-35%, tức là chỉ tận dụng được 1/3 lợi ích từ FTA đã có hiệu lực.

Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ này ở mức thấp, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng thiếu phân khúc sản xuất vải chính là “nút thắt cổ chai” khi ngành dệt may tham gia các FTA. Bởi hiện nay, nhập khẩu vải và nguyên phụ liệu ngành dệt may hiện đang có giá trị khoảng 40% giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc nhưng có đến 70% vải nhập khẩu phục vụ cho mục đích may xuất khẩu.

Vì vậy, không có chuỗi cung ứng vải đầy đủ dẫn đến nhiều doanh nghiệp dệt may khó tận dụng lợi thế của các FTA. Điều này ảnh hưởng đến vấn đề xuất xứ hàng hoá của Việt Nam- một trong những nguyên nhân chính khiến tỷ lệ doanh nghiệp dệt may tận dụng các FTA thấp.

Bên cạnh đó, theo đánh giá của MCSS, Việt Nam không dễ dàng tận dụng được ưu đãi của các FTA thế hệ mới như Hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU (EVFTA) hay Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trước đó.

Theo TS Phạm Sỹ Thành, Trưởng nhóm nghiên cứu-Giám đốc chương trình MCSS cho rằng: Quy định của EVFTA có thể mở đường cho các doanh nghiệp Việt Nam thay đổi chiến lược nguồn cung vì Việt Nam có thể tăng nhập nguyên liệu từ những nước đã có FTA với Liên minh châu Âu (EU) để đảm bảo quy tắc xuất xứ ROO. Tuy nhiên, quá trình thực hiện trên thực tế có thể không dễ dàng như vậy khi giá nhập khẩu từ một nơi có thể giúp hàng Việt Nam được hưởng C/O vào châu Âu (ví dụ nhập khẩu từ Hàn Quốc) có giá cao hơn 15 – 20% so với nhập khẩu từ Trung Quốc.

Đối với thị trường các nước thành viên CPTPP, nhóm nghiên cứu cũng đánh giá: Việt Nam chưa khai thác được các thị trường tiềm năng trong khối như Mexico, Newzealand, Canada, Australia. Đặc biệt, Australia, Canada là hai thị trường có quy mô sử dụng hàng dệt may khá lớn, khoảng 10 tỷ USD/năm, trong khi thị phần xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam vào 2 thị trường này còn nhỏ, chỉ khoảng 500 triệu USD/năm.

Riêng với thị trường Canada, MCSS nhận định cơ hội xuất khẩu hàng may mặc có dư địa cao (hiện mới chiếm 7% tổng thị phần nhập khẩu của Canada) vì nhiều công ty phân phối dệt may hàng đầu thế giới có trụ sở tại Canada. Đặc biệt, khi thuế nhập khẩu mặt hàng này vào Canada sẽ giảm xuống còn 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực hoặc sau 3 năm nếu đáp ứng được quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi.

Tuy nhiên, dư địa phát triển ở thị trường Mỹ chưa khả quan khi mức thuế suất hàng dệt may vào Mỹ đối với Việt Nam vẫn ở mức rất cao. Mặc dù, đây là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam nhưng thuế suất mà hàng may mặc Việt Nam tại Mỹ vẫn ở mức 17,5%, rất cao so với các thị trường khác, đặc biệt là những thị trường mà Việt Nam đã kí FTA song phương hoặc đa phương.

Vì vậy, TS. Phạm Sỹ Thành cho rằng: Doanh nghiệp dệt may cần tận dụng các FTA nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút dịch chuyển đầu tư FDI vào sản xuất nguyên phụ liệu nhằm đáp ứng yêu cầu về qui định xuất xứ; để CPTPP đem lại nhiều lợi ích hơn cho doanh nghiệp dệt may Việt Nam, cần thiết phải ký một FTA song phương với Canada vì đây là thị trường xuất khẩu may mặc tiềm năng, quy mô lớn.

Bên cạnh đó, “doanh nghiệp cần cải thiện vị trí chuỗi giá trị bằng liên kết chuỗi cung ứng, có chính sách hợp lý cho ngành dệt may, chú trọng đầu tư cho tự động hóa; khai thác các thị trường hiện có và mở thêm tiềm năng của thị trường mới; đầu tư cho tương lai bằng thay đổi cách tổ chức sản xuất dựa theo công nghệ”, TS. Phạm Sỹ Thành nhấn mạnh.

Hương Giang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.070 23.280 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.100 23.280 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.103 23.283 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.090 23.260 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.095 23.265 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.094 23..304 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.081 23.310 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.100 23.260 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.130 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
49.930
50.350
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
49.930
50.330
Vàng SJC 5c
49.930
50.350
Vàng nhẫn 9999
49.550
50.080
Vàng nữ trang 9999
49.130
49.880