Ổn định kinh tế vĩ mô: Dĩ bất biến, ứng vạn biến

09:13 | 19/09/2022

Đảm bảo ổn định và khả năng chống chịu vĩ mô phải được xem là yếu tố “bất biến” để ứng phó với môi trường nhiều bất định của tình hình kinh tế toàn cầu hiện nay. Cũng chính bởi vậy, chủ đề “Củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô (KTVM), thúc đẩy phục hồi và phát triển bền vững" đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội lựa chọn cho Diễn đàn Kinh tế - Xã hội 2022. Diễn đàn diễn ra ngày 18/9/2022 tại Hà Nội dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ.

on dinh kinh te vi mo di bat bien ung van bien Thủ tướng chỉ thị: Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế
on dinh kinh te vi mo di bat bien ung van bien Phối hợp hài hòa các chính sách để ổn định và phát triển
on dinh kinh te vi mo di bat bien ung van bien Chính sách tiền tệ phải bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô

Kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô

Nền kinh tế đang trên đà phục hồi tích cực với tăng trưởng GDP 6 tháng tăng 6,42% so với cùng kỳ và khả năng cao sẽ đạt mức tăng trưởng hai con số trong quý III này. Đồng thời ổn định KTVM được giữ vững trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là áp lực lạm phát. Các tổ chức định chế tài chính quốc tế như WB, IMF, ADB... trong các cập nhật gần đây đều nâng mức dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 của Việt Nam (so với các dự báo trước đó), hiện phổ biến từ 6,7-7,5%, và đều nhận định lạm phát sẽ dưới 4%.

Trong báo cáo trình bày tại diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương cho biết, nếu tiếp tục nỗ lực, phấn đấu hơn nữa, tăng trưởng năm 2022 có khả năng sẽ đạt khoảng 7%. Tuy nhiên, những tháng cuối năm nay và năm 2023 được dự báo có rất nhiều khó khăn, thách thức. Đáng chú ý, do những vấn đề như xung đột Nga - Ukraine, nguồn cung năng lượng, chuỗi cung ứng, cạnh tranh chiến lược, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu… không thể giải quyết trong ngắn hạn và tiềm ẩn rủi ro đến tăng trưởng kinh tế, đến ổn định KTVM trong nước.

on dinh kinh te vi mo di bat bien ung van bien
Nếu tiếp tục nỗ lực, phấn đấu, tăng trưởng cả năm có thể đạt 7%

“Với độ mở kinh tế lớn, trong khi tính tự chủ của nền kinh tế, năng lực sản xuất trong nước còn hạn chế, rủi ro, thách thức như vậy tới tăng trưởng kinh tế, ổn định KTVM của nước ta là rất lớn”, ông Phương cảnh báo và cho rằng, nền kinh tế sẽ tiếp tục phục hồi, nhưng tăng trưởng kinh tế khả năng sẽ khó khăn hơn trong quý IV năm 2022 và năm 2023.

Phát biểu tại diễn đàn, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho rằng, mặc dù kinh tế tiếp tục phục hồi mạnh mẽ với nhiều điểm sáng, nhưng cũng phải đối mặt với nhiều áp lực đến từ tác động của nguy cơ suy giảm kinh tế, bất ổn thương mại và tài chính trên thế giới; từ một số cấu phần của Chương trình phục hồi triển khai còn chậm, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra; từ thực tế giải ngân đầu tư công còn chậm và vẫn là điểm nghẽn… Do đó, việc giữ vững, củng cố nền tảng KTVM, rộng hơn là việc nâng cao năng lực chống chịu, tính tự cường của nền kinh tế, đồng thời thúc đẩy phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn và thách thức.

Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, việc củng cố, tăng cường nền tảng KTVM, tăng cường khả năng chống chịu và tự cường của nền kinh tế phải luôn là mục tiêu hàng đầu. Bài học thực tiễn qua hơn 35 năm đổi mới, kể cả trong những giai đoạn khó khăn, thử thách khắc nghiệt như trong 2 năm ứng phó với đại dịch Covid-19 vừa qua, có thể khẳng định rằng, bảo đảm ổn định KTVM như là yếu tố “bất biến” để ứng phó với “vạn biến” của tình hình kinh tế quốc tế.

Đồng tình như vậy, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh, ổn định KTVM, đồng thời ứng phó chủ động, linh hoạt với sự thay đổi nhanh chóng là chìa khoá để nền kinh tế Việt Nam tiếp tục "lội ngược dòng" thành công và duy trì đà tăng trưởng trong bối cảnh thế giới, khu vực có nhiều biến động. Thực tiễn đã chứng tỏ chỉ khi các chỉ số vĩ mô được giữ ổn định, nền kinh tế mới hội đủ năng lực chống chịu, có dư địa để chủ động ứng phó có hiệu quả với các diễn biến bất ngờ và phục hồi nhanh chóng sau các biến động đó.

TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cũng cho rằng, việc nâng cao năng lực chống chịu, tính tự cường của nền kinh tế là yêu cầu cấp thiết, bởi trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay và sắp tới còn phức tạp, nhiều bất định, rủi ro.

Chủ động, linh hoạt

Theo các chuyên gia kinh tế, để vĩ mô ổn định và năng lực chống chịu được nâng lên trong khi vẫn hỗ trợ được quá trình phục hồi sau đại dịch và trong bối cảnh bên ngoài còn quá nhiều bất định hiện nay, tất yếu những chính sách nền tảng của nền kinh tế như chính sách tài khóa (CSTK), chính sách tiền tệ (CSTT) phải được điều hành hết sức chủ động, linh hoạt và phải phối hợp chặt chẽ với nhau.

Phát biểu tại diễn đàn, Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà cho biết, trong năm 2022, tình hình thế giới rất phức tạp và khó lường, chưa từng có tiền lệ, khiến rủi ro là rất lớn. Hiện kiềm chế lạm phát đang là ưu tiên hàng đầu của nhiều NHTW ở các nền kinh tế lớn. Cách đây không lâu, nhiều NHTW lớn đã chần chừ do đánh giá lạm phát chỉ là tạm thời, đứt gãy chuỗi cung ứng, tuy nhiên lạm phát kéo dài hơn dự kiến cho thấy vấn đề lạm phát thực sự phức tạp hơn và không thể coi nhẹ, buộc các NHTW phải tăng nhanh lãi suất, và điều này lại dẫn đến nguy cơ suy thoái.

Tất cả những điều đó đã gây nhiều khó khăn cho công tác điều hành CSTT. Trong hơn 8 tháng đã sử dụng nhiều biện pháp để ổn định thị trường tiền tệ, ổn định lãi suất, tỷ giá; qua đó góp phần kiểm soát lạm phát ở mức thấp, duy trì ổn định KTVM, hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực lạm phát còn lớn và kéo dài nên NHNN phải hết sức chú trọng, không thể chủ quan trong điều hành.

Nói về chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà nhấn mạnh, trong hơn 10 năm qua, biện pháp này đã thể hiện được sự hiệu quả trong ổn định hoạt động của hệ thống các TCTD, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối. Theo đó, nếu như thời điểm trước năm 2011, tăng trưởng tín dụng rất cao, ở mức trên 30%. Tuy nhiên trong 10 năm trở lại đây, NHNN đã cố gắng điều hành tăng trưởng tín dụng ở mức 12 - 14%.

Đồng tình với quan điểm thận trọng trong điều hành CSTT của NHNN, TS.Võ Trí Thành - nguyên Phó Viện trưởng CIEM cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, việc Việt Nam lựa chọn vừa thúc đẩy phục hồi, vừa ổn định KTVM phù hợp và nên dựa nhiều vào CSTK vì vị thế tài khóa ngân sách hiện nay tương đối tốt. “Việc tập trung vào CSTK cũng đã tạo dư địa cho CSTT để ứng phó với những rủi ro, bất định”, chuyên gia này nhìn nhận.

Về CSTT, TS.Võ Trí Thành cho rằng, con số tăng trưởng tín dụng 14% là hợp lý trong bối cảnh hiện tại, thậm chí về dài hạn còn phải giảm xuống. Bởi nếu nới lỏng hơn thì áp lực lên tỷ giá còn lớn hơn, gây áp lực ngược đến lãi suất và kéo theo nhiều hệ lụy khác. “Tăng trưởng tín dụng 14% không phải quá nới lỏng, nhưng cũng không phải thắt chặt. Vấn đề là cần vận dụng CSTT linh hoạt hơn nữa để dòng vốn tập trung vào sản xuất kinh doanh, hạn chế các lĩnh vực rủi ro; kiểm soát chặt chẽ phần đầu tư cho trung, dài hạn để bổ sung vốn lưu động cho một số lĩnh vực kinh doanh phù hợp”, TS. Thành nói.

Nhắc lại tinh thần giữ vững ổn định KTVM phải được xem là yếu tố “bất biến” để ứng phó với các bất định hiện nay, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ trong phần phát biểu kết luận và bế mạc diễn đàn nhấn mạnh: “Có vĩ mô sẽ giữ được tất, mất vĩ mô là khó khăn đấy. Cho nên phải kiên trì nền tảng KTVM”.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000