Tạo nền tảng cho DN sống khoẻ, sống lâu

14:00 | 01/08/2019

Trái ngược với tình trạng ảm đạm của hoạt động đầu tư từ khu vực Nhà nước, tình hình đầu tư của khu vực tư nhân bao gồm cả tư nhân trong nước và DN FDI đã có nhiều chuyển biến rất tích cực...

Thủ tướng mong muốn doanh nghiệp tư nhân làm giàu bằng trí tuệ, bản lĩnh
Khi doanh nghiệp tư nhân chậm lớn
Ảnh minh họa

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn NSNN tháng 7 ước tính đạt 29,9 nghìn tỷ đồng, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: vốn Trung ương 3,8 nghìn tỷ đồng, giảm 27,6%; vốn địa phương 26,1 nghìn tỷ đồng, tăng 13,9%. Tính chung 7 tháng năm nay, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn NSNN đạt 158,3 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 44,9% kế hoạch năm và tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2018 bằng 43,3% và tăng 9,7%).

Trong khi 7 tháng đầu năm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện ước tính đạt 10,6 tỷ USD, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2018. Vốn đầu tư từ khu vực tư nhân cũng vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực khi mà làn sóng khởi nghiệp tiếp tục là kênh huy động vốn và nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế.

Trong 7 tháng đầu năm 2019 có gần 79,3 nghìn DN đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 999,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,6% về số DN và tăng 29,6% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018. Nếu tính cả 1.476,9 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các DN thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 7 tháng năm 2019 là 2.476,3 nghìn tỷ đồng.

Rõ ràng, kết quả này tiếp tục cho thấy một điểm nhấn ấn tượng của bức tranh kinh tế, đó là khi đầu tư nhà nước giảm tốc, khu vực kinh tế tư nhân vẫn đủ sức để kéo cả nền kinh tế đi lên. Đây là “quả ngọt” của nhữngchính sách ưu đãi, hỗ trợ, tạo điều kiện cho DN đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Đồng thời, những thành quả này cũng cho thấy sự “rút lui” dần của nhà nước trong nền kinh tế là chủ trương đúng đắn và đang được thực hiện nhất quán.

Tuy nhiên, những con số đáng khích lệ trên vẫn chưa đủ để khiến các cơ quan của Chính phủ yên tâm. Trong các báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội giai đoạn trước mắt cũng như tầm nhìn dài hạn, có thể thấy đánh giá xuyên suốt là nền tảng của khu vực tư nhân trong nước còn rất yếu, vì vậy tăng trưởng mấy năm vừa qua có được chủ yếu là nhờ công của khối FDI.

Thực tế này tiếp tục đặt ra vấn đề là bên cạnh những mặt tích cực đạt được, môi trường kinh doanh của nước ta vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế cần nhanh chóng khắc phục, từ đó tạo động lực cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển bền vững hơn trong tương lai. Hàng loạt vấn đề cụ thể đã được cả cơ quan quản lý trong nước, cũng như các tổ chức nước ngoài chỉ rõ.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đó là thủ tục hải quan và quản lý, kiểm tra chuyên ngành tuy đã có những bước cải thiện nhưng còn chậm, làm cho thứ bậc về năng lực cạnh tranh của Việt Nam bị giảm. Nguyên nhân khác, là chỉ số Đăng ký quyền sở hữu và sử dụng tài sản trong nhiều năm không có bất kỳ cải cách gì và thứ hạng liên tiếp giảm bậc qua các năm. Trong 5 năm vừa qua, chỉ số này của nước ta giảm 27 bậc, từ vị trí 33 xuống vị trí 60. Chỉ đến năm 2018, chỉ số này được ghi nhận tăng bậc.

Kết quả xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2018 cũng cho thấy, chỉ số Năng lực cạnh tranh 4.0 của Việt Nam giảm 3 bậc; trong đó 7/12 trụ cột giảm điểm. Kết quả này cho thấy các động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo để theo kịp xu thế 4.0 của Việt Nam còn yếu và chưa hiệu quả.

Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) cũng nhấn mạnh vai trò của khu vực DN tư nhân đối với tăng trưởng dài hạn. Theo đó, năng suất lao động của các DN sẽ quyết định năng suất tổng thể của nền kinh tế. Tuy nhiên nhìn trong dài hạn, sự phát triển năng suất lao động của Việt Nam 20 năm qua thấp hơn xu hướng thế giới và cũng chưa được khai phá đầy đủ.

Nghiên cứu của WB cho thấy, sự chênh lệch về năng suất lao động giữa các DN Việt Nam lên đến hơn 100 lần, đòi hỏi phải thúc đẩy chuyển giao tri thức, học hỏi lẫn nhau để phân bổ lại nguồn lực từ khu vực năng suất thấp sang khu vực năng suất cao hơn. Cơ quan này chỉ rõ, để làm được điều đó, cần tạo ra môi trường pháp lý để các DN có năng suất thấp tháo lui, DN nâng suất cao gia nhập thị trường…

Rõ ràng tất cả những vấn đề đó cần được nhanh chóng giải quyết để tạo dựng một môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh, tạo điều kiện cho DN tư nhân không chỉ dễ dàng gia nhập mà còn phải sống khoẻ và sống lâu.

Ngọc Khanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.048 23.278 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.082 23..294 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.075 23.275 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.950
56.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.950
56.450
Vàng SJC 5c
55.950
56.470
Vàng nhẫn 9999
53.600
54.100
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.800