Thảo luận dự án PPP: Cơ chế chia sẻ rủi ro vẫn nóng?

08:27 | 29/05/2020

Thảo luận về Dự án Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) ngày 28/5, bên cạnh vấn đề xác định lĩnh vực đầu tư, và vai trò của Kiểm toán Nhà nước… thì cơ chế chia sẻ rủi ro Nhà nước - nhà đầu tư vẫn được các đại biểu Quốc hội  bàn thảo nhiều nhất.

Chỉ tập trung đầu tư PPP ở những lĩnh vực trọng tâm
Giảm rủi ro cho ngân hàng trong dự án PPP
Luật PPP: Hoàn thiện để hấp dẫn nhà đầu tư ngoại

Chia sẻ rủi ro theo lỗ - lãi sẽ khó xác định

Dự án Luật đưa ra 2 phương án về cơ chế chia sẻ rủi ro. Phương án 1: Cơ chế chia sẻ theo phần tăng, giảm doanh thu; Phương án 2: Cơ chế chia sẻ theo phần lỗ, lãi. Nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng chia sẻ rủi ro theo cơ chế lỗ - lãi sẽ rất khó xác định.

Đại biểu Phạm Thị Thu Trang (Quảng Ngãi) cho rằng, nếu thực hiện cơ chế chia sẻ theo lãi - lỗ thì thời điểm xác định lãi - lỗ sau điểm hòa vốn sẽ rất lâu và việc xác định lãi - lỗ cũng rất khó vì có nhiều yếu tố tác động trong thời gian thực hiện và đưa vào khai thác, sử dụng dự án. Trong khi đó, cơ chế chia sẻ phần tăng - giảm doanh thu được thực hiện hàng năm sẽ kịp thời xử lý và chia sẻ rủi ro, giúp nhà đầu tư cân đối tài chính cho nguồn vốn vay, bảo đảm vận hành, khai thác dự án đúng mục tiêu.

Cùng quan điểm này, đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết (An Giang) phân tích, cơ chế hạch toán lỗ - lãi dựa vào chi phí của DN mà chi phí này ngoài chịu ảnh hưởng bởi yếu tố khách quan (giá cả đầu vào, lạm phát…) còn phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan. Trong đó, quan trọng nhất thuộc trách nhiệm quản trị của DN (hiệu suất sản xuất, quản trị…). “Do đó, nếu Nhà nước chia sẻ rủi ro với DN mà nguyên nhân lỗ do yếu kém của DN trong điều hành quản lý sẽ là không hợp lý”, đại biểu Tuyết nói.

Đại biểu Vũ Tiến Lộc (Thái Bình) lại đưa ra cách tiếp cận khác khi cho rằng, cách thức phân bổ, quản lý rủi ro dự án PPP cần phải có sự linh hoạt. “Tôi đề nghị Luật PPP nên coi là luật khung, chứ không nên đi vào chi tiết quy định cách thức và tỷ lệ chia sẻ rủi ro của Nhà nước. Vì nếu quy định chi tiết như vậy thì vừa thừa lại vừa thiếu”, đại biểu Lộc nêu quan điểm. Thừa vì không tạo ra sự linh hoạt cho khu vực công cũng như khu vực tư nhưng lại thiếu vì còn các rủi ro khác chưa đưa vào được.

Từ phân tích trên, đại biểu Lộc đề nghị luật chỉ quy định khung, còn tùy theo định hướng chính sách và nguồn lực quốc gia trong từng giai đoạn thì Chính phủ sẽ quy định riêng cho từng dự án và từng lĩnh vực. Theo vị đại biểu này, trong chia sẻ rủi ro, nên bổ sung thêm biện pháp bảo lãnh trách nhiệm thực hiện hợp đồng của cơ quan nhà nước. “Bởi hiện nay một trong những rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng là các cơ quan nhà nước không tôn trọng hợp đồng PPP. Đây là điều lo ngại của các nhà đầu tư tư nhân nên tôi đề nghị bổ sung biện pháp này”.

Chia rủi ro theo doanh thu: 50-50?

“Chúng ta cần dựa vào doanh thu chứ không nên dựa vào con số về lỗ - lãi”, đại biểu Hoàng Văn Cường (Hà Nội), nêu quan điểm trong thảo luận. Ông phân tích, doanh thu của dự án PPP được tính toán trên cơ sở ước tính số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ khi thiết kế dự án. Khi dự án đi vào khai thác, số lượng khách hàng này có thể thay đổi. Nếu lượng khách hàng sụt giảm thì tổng doanh thu sụt giảm, như vậy phương án tài chính của nhà đầu tư cũng sẽ bị thay đổi theo, ví dụ như đến thời gian thu hồi vốn hoặc giá dịch vụ công.

“Chính vì vậy chúng ta phải chia sẻ cho nhà đầu tư khi doanh thu giảm do lượng khách hàng giảm. Còn lượng khách hàng vẫn giữ nguyên, doanh thu vẫn giữ nguyên nhưng nhà đầu tư đầu tư không tốt dẫn đến lỗ thì nhà đầu tư phải chịu. Ngược lại, quản lý tốt mà có lãi thì nhà đầu tư được hưởng”, đại biểu Cường nói, tuy nhiên cần quy định chặt chẽ trong luật về phương thức kiểm soát doanh thu dựa trên kiểm soát lượng khách hàng sử dụng dịch vụ công theo cam kết như là trong dự án và trong hợp đồng.

Theo đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết (An Giang), thực chất mức lỗ - lãi của DN quyết định bởi 2 yếu tố: doanh thu và chi phí. Doanh thu sẽ căn cứ vào mức giá, phí của sản phẩm dịch vụ, do đó biến động doanh thu trong các dự án PPP, điển hình như dự án giao thông chủ yếu xuất phát từ nhu cầu thực tế và mức giá, phí dịch vụ thường do Nhà nước quy định hay được xác định trong các dự án đầu tư. “Vì vậy, chia sẻ rủi ro theo doanh thu là hợp lý”, đại biểu Tuyết nhấn mạnh.

Đồng tình với các ý kiến đề nghị nên theo cơ chế chia sẻ rủi ro theo doanh thu, đại biểu Phạm Văn Tuân (Thái Bình) cho rằng, hiện nay dự án PPP chủ yếu được áp dụng đối với loại hợp đồng BOT trong lĩnh vực hạ tầng giao thông. Và theo quy định hiện nay, tất cả các trạm BOT trên cả nước đều phải lắp đặt hệ thống thu phí tự động không dừng theo quy định của Bộ Giao thông vận tải và đã trình Thủ tướng Chính phủ dự kiến đến hết năm 2020 lắp đặt xong tất cả các trạm BOT. “Do vậy, việc kiểm soát lưu lượng xe và doanh thu hàng năm được công khai, minh bạch và sẽ dễ thực hiện hơn nếu so với Phương án 2”, đại biểu phân tích.

Giải trình và làm rõ thêm về nội dung này, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho rằng, việc trong thảo luận các đại biểu cơ bản đều thống nhất với phương án chia sẻ theo doanh thu là vì cơ chế này đã được nghiên cứu và thảo luận, phân tích, đánh giá hết sức kỹ lưỡng, phù hợp với thông lệ quốc tế. Bên cạnh đó, cơ chế này bảo đảm phản ánh và kiểm soát được tình hình tài chính của DN thuận lợi hơn. Cơ chế này cũng đã được thiết kế hết sức chặt chẽ. Theo đó, nếu giảm doanh thu dưới 75% thì Nhà nước mới phải chia sẻ và trước khi chia sẻ thì phải thực hiện điều chỉnh các hợp đồng, và chia theo cơ chế 50-50. “Như vậy từ 76% đến 100% là nhà đầu tư tự chịu. Còn doanh thu nếu tăng lên trên 125%, thì bất kể lý do nào đều chia 50-50 với Nhà nước”, Bộ trưởng Dũng cho biết.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.300 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.115 23.295 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.116 23.306 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.130 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.120 23.290 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.115 23.285 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.108 23..318 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.102 23.302 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.150 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.830
49.200
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.830
49.180
Vàng SJC 5c
48.830
49.200
Vàng nhẫn 9999
48.680
49.280
Vàng nữ trang 9999
48.280
49.080