Từ kỷ lục xuất khẩu đến bài toán giữ lại giá trị
![]() |
| Hình ảnh minh họa được tạo bởi AI |
Tính chung 8 tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 770,14 tỷ USD, gồm 374,84 tỷ USD xuất khẩu và 395,3 tỷ USD nhập khẩu, tăng 28,7% so với cùng kỳ. Tính theo giá trị tuyệt đối, quy mô thương mại đã tăng thêm gần 172 tỷ USD so với cuối năm ngoái.
Động lực quan trọng phía sau những con số này là sự phục hồi của sản xuất. Lượng đơn hàng gia tăng đang giúp doanh nghiệp mở rộng sản lượng, tăng nhu cầu nguyên vật liệu và thúc đẩy hoạt động cung ứng. Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam tháng 8 đạt 53,3 điểm, cao hơn mức 52,9 điểm của tháng 7 và duy trì trên ngưỡng 50 điểm (thể hiện mở rộng sản xuất) trong tháng thứ 14 liên tiếp. Sản lượng và đơn hàng mới cùng tăng cho thấy khu vực sản xuất tiếp tục có sự cải thiện.
Đáng chú ý, cơ cấu xuất khẩu đang xuất hiện những con số cho thấy rõ hơn vai trò của các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Chỉ sau 8 tháng, nhóm hàng điện tử, máy tính và linh kiện đã đạt kim ngạch khoảng 101 tỷ USD, tăng 51,1% so với cùng kỳ và chỉ thấp hơn khoảng 7 tỷ USD so với cả năm 2025. Xuất khẩu điện thoại và linh kiện cũng đạt 45,6 tỷ USD, tăng 19,4%...
Theo bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam, sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng toàn cầu đang mở ra cơ hội để Việt Nam tiếp tục củng cố vị thế trong mạng lưới sản xuất và xuất khẩu điện tử quốc tế. Dòng vốn, đơn hàng và nhu cầu đa dạng hóa chuỗi cung ứng đang tạo thêm dư địa cho ngành sản xuất trong nước.
Nhưng chính sự tăng trưởng nhanh của xuất khẩu lại đặt ra một bài toán không thể né tránh: Việt Nam sẽ giữ lại được bao nhiêu giá trị trong mỗi đồng kim ngạch xuất khẩu?
Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng cho biết, năm 2026, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu khoảng 15 - 16%, hướng tới kim ngạch 546 - 550 tỷ USD. Với mức tăng trên 22% sau 8 tháng, xuất khẩu đang có nền tảng thuận lợi để hoàn thành mục tiêu cả năm.
Cùng với việc duy trì thị trường truyền thống, các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường và tìm kiếm khách hàng mới đang được đẩy mạnh. Đây là những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp tận dụng sự phục hồi của nhu cầu quốc tế.
Tuy nhiên, phía sau tăng trưởng xuất khẩu là một thực tế cần được nhìn thẳng. Trong 8 tháng, nhập khẩu đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3%, cao hơn tốc độ tăng của xuất khẩu. Điều đó cho thấy sản xuất đang mở rộng nhưng đồng thời nhu cầu về máy móc, thiết bị, nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu cũng tăng mạnh. Vì vậy, nếu chỉ nhìn vào kim ngạch xuất khẩu, bức tranh sẽ chưa đầy đủ. Điều quan trọng hơn là phải nâng tỷ lệ giá trị được tạo ra ngay trong nền kinh tế.
Đây chính là thời điểm công nghiệp hỗ trợ cần được đặt vào vị trí trung tâm. Một doanh nghiệp Việt Nam sản xuất được linh kiện điện tử, chi tiết cơ khí chính xác, vật liệu công nghiệp hay thiết bị phụ trợ không chỉ giúp giảm một phần nhu cầu nhập khẩu. Quan trọng hơn, doanh nghiệp đó tạo ra doanh thu, việc làm, năng lực công nghệ và hình thành thêm một lớp nhà cung ứng phía sau. Giá trị xuất khẩu khi đó không còn nằm chủ yếu ở khâu lắp ráp mà được lan tỏa rộng hơn trong nền kinh tế.
Bà Lê Nguyễn Thiên Nga, Viện trưởng Viện Quản trị chính sách và chiến lược phát triển - Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chia sẻ, điểm nghẽn lớn nhất của công nghiệp hỗ trợ không hẳn là thiếu doanh nghiệp, mà là thiếu những doanh nghiệp đủ năng lực bước vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Để trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 cho các tập đoàn lớn, doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời hàng loạt yêu cầu về chất lượng, độ chính xác, năng lực giao hàng, quản trị sản xuất, môi trường và khả năng đổi mới công nghệ. Đây là khoảng cách mà không thể thu hẹp chỉ bằng các chương trình hỗ trợ mang tính phong trào.
Giải pháp trước hết phải là hỗ trợ theo nhu cầu thực tế của chuỗi cung ứng. Nhà nước cần kết nối chặt hơn giữa doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp dẫn dắt với các doanh nghiệp trong nước, từ đó xác định cụ thể linh kiện, vật liệu, công đoạn nào Việt Nam có khả năng sản xuất và cần nâng cấp ở đâu.
Khi một tập đoàn có nhu cầu mua hàng cụ thể, doanh nghiệp Việt Nam biết chính xác phải đầu tư máy móc gì, nâng tiêu chuẩn nào, đào tạo nhân lực ra sao thì chính sách hỗ trợ mới thực sự đi vào sản xuất.
Công nghiệp hỗ trợ đòi hỏi đầu tư lớn vào máy móc, khuôn mẫu, công nghệ và hệ thống quản lý chất lượng, trong khi phần lớn doanh nghiệp trong nước có quy mô vừa và nhỏ vẫn gặp nhiều thách thức. Nếu tiếp cận vốn vẫn dựa chủ yếu vào tài sản thế chấp, nhiều doanh nghiệp có công nghệ và đơn hàng nhưng thiếu tài sản để bảo đảm sẽ khó mở rộng sản xuất.
Do đó, cần những cơ chế tín dụng phù hợp hơn với đặc thù đầu tư công nghiệp hỗ trợ, đồng thời tăng hỗ trợ đổi mới công nghệ, nghiên cứu và phát triển, sản xuất thử nghiệm. Chính sách cũng cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dài hạn thay vì chỉ tập trung vào những đơn hàng ngắn hạn.
Một yếu tố khác không thể thiếu là nhân lực. Theo ông Nguyễn Ngọc Đăng Khoa, Phó giám đốc Phát triển kinh doanh công ty TNHH SMC Cơ khí chính xác Phú Mỹ, công nghiệp hỗ trợ muốn phát triển phải có đội ngũ kỹ thuật viên, kỹ sư, chuyên gia tự động hóa, quản trị chất lượng và thiết kế sản phẩm. Vì vậy, đào tạo cần gắn trực tiếp với nhu cầu của từng ngành và từng chuỗi sản xuất, thay vì đào tạo chung chung.
Đặc biệt, cần thay đổi cách thu hút FDI. Một dự án công nghệ cao không nên chỉ được đánh giá ở quy mô vốn hay kim ngạch xuất khẩu, mà cần tính đến khả năng hình thành mạng lưới nhà cung ứng trong nước. Mỗi dự án lớn phải có khả năng trở thành “hạt nhân” kéo theo doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Xuất khẩu đang tăng tốc, đơn hàng đang trở lại và chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục dịch chuyển. Đây là thời điểm thuận lợi để công nghiệp hỗ trợ bứt lên.
Nếu tận dụng được cơ hội này, mỗi đồng kim ngạch xuất khẩu sẽ tạo ra nhiều hơn doanh thu cho doanh nghiệp Việt Nam, nhiều việc làm và nhiều giá trị gia tăng trong nước. Khi đó, tăng trưởng xuất khẩu không chỉ làm đẹp những con số thương mại, mà thực sự trở thành động lực nâng cấp nền sản xuất.
Tin liên quan
Tin khác
Kiến nghị bổ sung cơ chế chia sẻ rủi ro với các tổ chức tín dụng
Kinh tế tư nhân Trung Bộ và Tây Nguyên: Từ đổi mới sáng tạo đến giá trị thực
Tranh chấp xây dựng xuyên biên giới: Rủi ro từ hợp đồng
VietnamPrintPack 2026 thúc đẩy chuyển đổi xanh và tự động hoá tại Việt Nam
Giá nguyên liệu thủy sản ổn định, doanh nghiệp nỗ lực tăng giá trị hàng xuất khẩu
Doanh nghiệp bước vào cuộc chọn lọc đơn hàng
Hộ kinh doanh - nguồn lực lớn để phát triển cộng đồng doanh nghiệp
Ngành xây dựng Việt Nam tăng tốc, tín nhiệm doanh nghiệp phân hóa
Chăn nuôi Việt Nam đối mặt thách thức phát triển hiệu quả, hiện đại và bền vững



