Tỷ giá ngày 6/5: Tỷ giá trung tâm kéo dài chuỗi tăng

10:00 | 06/05/2021

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (6/5), trong khi tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng thì giá mua - bán đồng bạc xanh tại các ngân hàng ít biến động và tiếp tục ổn định so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 65 ty gia trung tam keo dai chuoi tang Điểm lại thông tin kinh tế ngày 5/5
ty gia ngay 65 ty gia trung tam keo dai chuoi tang Tỷ giá ngày 5/5: Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng nhẹ

ty gia ngay 65 ty gia trung tam keo dai chuoi tang

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.178 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã tăng 20 đồng sau 3 phiên tăng liên tiếp.

ty gia ngay 65 ty gia trung tam keo dai chuoi tang

Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước hiện ở mức 23.125 VND/USD đối với mua vào và 23.823 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán đồng bạc xanh tại các ngân hàng ít biến động và tiếp tục ổn định so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 65 ty gia trung tam keo dai chuoi tang

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.940 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 22.980 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 23.140 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 23.175 VND/USD.

ty gia ngay 65 ty gia trung tam keo dai chuoi tang

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 91,274 điểm, tăng +0,011 điểm (+0,01%) so với thời điểm mở cửa.

Đồng bạc xanh đang dao động gần mức cao nhất hai tuần trong bối cảnh thị trường trông đợi báo cáo việc làm của Mỹ sẽ được công bố vào ngày mai, qua đó có thể cung cấp những tín hiệu về thời điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ thu lại dần chính sách kích thích tiền tệ.

Tuần qua, bạc xanh đã tăng trở lại từ mức thấp nhất trong một tháng, khi dữ liệu kinh tế của Mỹ cho thấy sự phục hồi nhanh chóng từ đại dịch, các nhà giao dịch đang cân nhắc liệu việc gia tăng lạm phát có thể buộc Fed phải can thiệp sớm hơn đề xuất của các nhà hoạch định chính sách hay không.

“Đồng USD có khả năng sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng từ cuộc tranh luận về quan điểm của Fed rằng lạm phát là tạm thời hay không”, chiến lược gia Jane Foley của Rabobank viết trong một bản tin.

Chủ tịch Fed Jerome Powell đã lập luận rằng thị trường lao động vẫn chưa đạt đến mức cần thiết để bắt đầu nói về việc điều chỉnh chính sách tiền tệ hiện tại. Fed từng khẳng định sẽ không tăng lãi suất cho đến năm 2023.

Ba quan chức Fed đã có những phát biểu vào hôm qua, với Chủ tịch Fed Chicago, Charles Evans, nói rằng mặc dù ông lạc quan hơn về sự tăng trưởng của Mỹ so với vài tháng trước, nhưng hy vọng chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục được nới lỏng trong thời gian tới.

Trong khi đó, Chủ tịch Fed Boston, Eric Rosengren, cho rằng lạm phát sẽ khó kiểm soát khi nền kinh tế Mỹ lấy lại cân bằng sau đại dịch, nhưng áp lực lạm phát chỉ tồn tại trong thời gian ngắn và không dẫn đến việc thay đổi chính sách tiền tệ.

Còn Chủ tịch Fed Cleveland, Loretta Mester, cho rằng sẽ cần nhiều tiến bộ hơn nữa trên thị trường việc làm trước khi Fed giảm bớt hỗ trợ cho nền kinh tế.

"Bất chấp những lời trấn an liên tục từ Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Janet Yellen và một loạt các quan chức Fed rằng sự gia tăng lạm phát sắp tới sẽ là nhất thời, thị trường rõ ràng đang tỏ ra lo lắng hơn một chút", chiến lược gia Rodrigo Catril của Ngân hàng Quốc gia Úc nói.

Đồng bạc xanh tăng trở lại hôm thứ Ba sau khi bà Yellen cho biết việc tăng lãi suất có thể là cần thiết để ngăn nền kinh tế phát triển quá nóng, mặc dù ngay sau đó bà đã hạ thấp khả năng thắt chặt chính sách tiền tệ.

Nhiều chuyên gia đã dự báo về lượng việc làm có thể sẽ tăng thêm một triệu trong tháng Tư.

Sáng nay, đồng euro giao dịch trở lại mức 1,2000 USD - mốc quan trọng về mặt tâm lý, sau khi giảm xuống 1,1986 USD vào hôm qua.

Đồng bạc xanh sáng nay giao dịch ở 109,34 yên, tăng 0,13% so với mở cửa, củng cố mức tăng ở phiên trước đó.

Đồng đô la Canada - đồng tiền liên kết hàng hóa - được giao dịch ở mức 1,2267 CAD/USD sau khi chạm mức cao nhất trong ba năm là 1,2252 vào hôm qua, nhờ giá dầu thô cao hơn và sự lạc quan về triển vọng phục hồi kinh tế toàn cầu.

Đồng bảng Anh ít thay đổi ở mức 1,3904 USD, trong bối cảnh Ngân hàng Trung ương Anh được một số chuyên gia dự báo rằng sẽ thông báo cắt giảm chương trình mua trái phiếu tại cuộc họp vào ngày mai, sau khi việc tiêm chủng được đẩy nhanh đã thúc đẩy sự phục hồi kinh tế của nước này.

ty gia ngay 65 ty gia trung tam keo dai chuoi tang

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.910 23.140 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.930 23.130 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.903 23.123 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.895 23.105 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.930 23.110 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.930 23.110 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.930 23.145 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.905 23.125 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.930 23.110 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.940 23.100 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.000
Vàng SJC 5c
56.450
57.020
Vàng nhẫn 9999
51.600
52.200
Vàng nữ trang 9999
51.200
51.900