Tỷ giá sáng 12/9: Tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm

09:23 | 12/09/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, tính đến 9h sáng nay (12/9), trong khi tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm thì giá mua - bán bạc xanh tại nhiều ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước.

ty gia sang 129 ty gia trung tam tiep tuc giam Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 5-9/9
ty gia sang 129 ty gia trung tam tiep tuc giam Điều hành tỷ giá bám sát thị trường

ty gia sang 129 ty gia trung tam tiep tuc giam

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở 23.253 đồng, giảm mạnh 10 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã có phiên giảm thứ hai liên tiếp với tổng mức giảm là 26 đồng.

ty gia sang 129 ty gia trung tam tiep tuc giam

Sáng nay, Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn giữ nguyên giá mua - bán USD. Hiện, giá bán ra đang ở 23.700 đồng/USD; giá mua vào vẫn tạm để trống.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh nhiều ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước.

ty gia sang 129 ty gia trung tam tiep tuc giam

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 23.365 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 23.430 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở 23.640 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở 23.880 VND/USD.

ty gia sang 129 ty gia trung tam tiep tuc giam

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt, cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 108,740 điểm, giảm 0,233 điểm (-0,21%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh tiếp tục giảm trong khi euro đã tăng lên mức cao nhất hơn ba tuần và bảng Anh tăng lên mức cao nhất trong tháng này, khi các quan chức Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) thắt chặt tiền tệ hơn nữa.

Bạc xanh đang hướng đến mức thấp nhất trong hai tuần trước thời điểm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tám của Mỹ sắp được công bố - dự liệu có thể khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) xem xét liệu có nên làm chậm tốc độ tăng lãi suất tại cuộc họp chính sách ngày 21/9 hay không.

Yên Nhật duy trì ổn định quanh mức 142 JPY/USD, khi lợi suất trái phiếu kho bạc dài hạn của Mỹ dừng đà tăng và rời khỏi mức cao nhất gần ba tháng.

Sáng nay, euro tăng 0,3% lên 1,0072 USD; bảng Anh tăng 0,18% lên 1,1610 USD.

Các nhà hoạch định chính sách của ECB nhận thấy rằng lãi suất chủ chốt sẽ cần phải tăng lên 2% hoặc hơn nữa để kiềm chế lạm phát.

Trong một cuộc phỏng vấn mới đây, Chủ tịch Bundesbank, Joachim Nagel nói rằng nếu triển vọng giá tiêu dùng không thay đổi thì "cần phải có những hành động mạnh mẽ hơn".

Các nhà đầu tư đang tỏ ra thận trọng trước thời điểm báo cáo CPI của Mỹ sẽ được công bố vào thứ Ba, trong khi các quan chức Fed tiếp tục thể hiện quan điểm diều hâu.

Thống đốc Fed Christopher Waller cho biết ông ủng hộ "mức tăng lãi suất đáng kể tại cuộc họp tiếp theo", trong khi Chủ tịch Fed St. Louis, James Bullard nhắc lại lời kêu gọi tăng 75 điểm cơ bản.

“Các quan chức Fed đã nêu rõ sự cần thiết phải tiếp tục tăng lãi suất cho đến khi có dẫu hiệu rõ ràng rằng lạm phát đang thấp xuống”, chiến lược gia Joseph Capurso của Ngân hàng Commonwealth Bank of Australia nói và thêm rằng: "Bất chấp kết quả của báo cáo CPI như thế nào, chúng tôi đánh giá Fed vẫn còn nhiều việc phải làm. Điều này đồng nghĩa với việc bạc xanh có thể tiếp tục tăng giá trong ngắn hạn và trung hạn".

Bạc xanh sáng nay tăng nhẹ so với yên Nhật và giao dịch ở mức 142,71 JPY/USD, sau khi rút khỏi đỉnh cao 24 năm, khi lợi suất trái phiếu kho bạc 10 năm của Mỹ đã giảm từ mức cao nhất kể từ giữa tháng Sáu.

Trong khi đó, một quan chức cấp cao của chính phủ Nhật Bản cho biết trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình nước sở tại rằng chính quyền phải thực hiện các bước đi cần thiết để chống lại sự sụt giảm quá mức của đồng yên.

Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng hành động như vậy sẽ khó có kết quả nếu vẫn "lỗi nhịp" với Fed và các ngân hàng trung ương khác, vì Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) vẫn đang đơn độc theo đuổi chính sách nới lỏng.

Rodrigo Catril, chiến lược gia tại Ngân hàng Quốc gia Australia, viết trong một bản tin: "Nếu BoJ thực sự muốn ngăn chặn đà giảm của yên Nhật, họ cần phải thực hiện các thay đổi trong chính sách nới lỏng hiện tại. Áp lực với họ đang tăng lên".

Ở những nơi khác, đô la Úc sáng nay giảm 0,03% xuống 0,6839 USD, trong khi đô la New Zealand nhích nhẹ lên 0,6115 USD.

ty gia sang 129 ty gia trung tam tiep tuc giam

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450