UOB: Dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 của Việt Nam ở mức 6,5%

10:19 | 07/04/2022

Dựa vào dữ liệu mới nhất cũng như dự báo các thách thức ở phía trước, UOB vừa đưa ra dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 của Việt Nam ở mức 6,5%, sát với với mục tiêu của Chính phủ là 6,0-6,5%.

Theo báo cáo Tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý I/2022 vừa được UOB phát hành, tăng trưởng GDP thực tế của Việt Nam trong quý I/2022 đạt 5,03% so với cùng kỳ năm trước, sau mức 5,22% trong quý IV/2021.

Tăng trưởng ổn định trong quý I/2022 được hỗ trợ nhờ vào kết quả hoạt động tốt từ lĩnh vực sản xuất, trong khi lĩnh vực dịch vụ dần phục hồi sau khi nhiều khu vực của nền kinh tế được mở cửa trở lại nhờ nới lỏng các hạn chế phòng dịch COVID-19.

Tuy nhiên, báo cáo của UOB nhận định: "Mức tăng trưởng thấp hơn kỳ vọng của chúng tôi là 5,8% và dự báo của Bloomberg là 5,5%".

uob du bao tang truong gdp nam 2022 cua viet nam o muc 65

Trong số các động lực góp phần vào tăng trưởng chính trong quý I/2022, lĩnh vực công nghiệp chế biến - chế tạo tiếp tục dẫn đầu với mức tăng 7,8%, nhưng vẫn thấp hơn so với mức tăng 8,9% trong cùng kỳ năm 2021. Trong khi đó, dịch vụ nói chung tăng 4,58%, cải thiện so với mức tăng 3,62% trong quý I/2021.

Đáng chú ý là nhóm ngành dịch vụ ăn uống và lưu trú phụ thuộc vào du lịch đã giảm 1,79% so với cùng kỳ năm trước, cải thiện đáng kể so với mức giảm 5,48% trong quý I/2021.

Các phân ngành dịch vụ khác hoạt động tương đối tốt, đặc biệt là dịch vụ liên quan đến y tế (13,22%), tài chính (9,75%) và vận tải - lưu kho (7,06%).

Tuy nhiên, ngành nông nghiệp tăng trưởng chậm lại 2,45% so với cùng kỳ năm trước, từ mức 3,51% trong quý I/2021.

Các lĩnh vực ngoại thương tiếp tục hoạt động tốt. So với mức tăng trưởng cao trong năm 2021, xuất khẩu tiếp tục tăng 14,8% trong tháng 3/2022 so với cùng kỳ với kim ngạch đạt 34,06 tỷ USD, trong khi nhập khẩu tăng 14,6% lên 32,67 tỷ USD, xuất siêu 1,39 tỷ USD.

Tính chung trong quý I/2022, xuất khẩu tăng 12,9% so với cùng kỳ lên 88,58 tỷ USD, trong khi nhập khẩu tăng 15,9% lên 87,77 tỷ USD, tạo ra thặng dư thương mại 809 triệu USD trong quý I.

Báo cáo cho thấy, trong quý vừa qua, ngành sản xuất điện thoại di động và linh kiện vẫn đóng góp lớn nhất với giá trị xuất khẩu đạt 14,2 tỷ USD (giảm 1,2% so với cùng kỳ), tiếp theo là linh kiện điện tử đạt 12,9 tỷ USD (tăng 8,1% so với cùng kỳ), máy móc đạt 9,6 tỷ USD (tăng 5,6% so với cùng kỳ), dệt may đạt 9,1 tỷ USD (tăng 25,9% so với cùng kỳ) và giày dép đạt 5,2 tỷ USD (tăng 9,2% so với cùng kỳ).

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI), Việt Nam đã nhận được 4,42 tỷ USD giải ngân từ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong quý I/2022, do các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục có góc nhìn tích cực về triển vọng của Việt Nam.

Tuy nhiên, dòng vốn FDI đăng ký đã giảm 12% so với cùng kỳ, xuống 8,9 tỷ USD trong quý I/2022, có thể đến từ sự không chắc chắn do xung đột Nga - Ukraine nổ ra vào cuối tháng 2/2022.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2022 tăng 2,41% so với cùng kỳ, từ mức tăng 1,42% một tháng trước đó, do chi phí vận tải tăng 17,2% trong tháng so với 14,5% vào tháng 2/2022.

Giống như ở nhiều nước, chi phí nhiên liệu trong nước đã tăng nhanh do giá dầu thô toàn cầu tăng vì chịu ảnh hưởng từ xung đột Nga - Ukraine và các lệnh trừng phạt đối với Nga. Trong quý I/2022, CPI bình quân của Việt Nam tăng 1,93% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức lạm phát cả năm 2021 là 1,84%, mặc dù vẫn duy trì dưới mục tiêu 4%.

Ngành bán lẻ đã cải thiện đáng kể trong quý I/2022 sau 2 năm đại dịch diễn ra trên toàn cầu khiến hoạt động du lịch và chi tiêu của người tiêu dùng trở thành những nhân tố gây sự tụt giảm lớn nhất. Tổng doanh thu bán lẻ tăng 4,44% trong quý I/2022, cao hơn mức tăng 3,8% trong năm 2021.

Năm 2021, Việt Nam nhập khẩu khoảng 15,8 tỷ USD sản phẩm năng lượng (bao gồm than, dầu thô, sản phẩm dầu mỏ, khí đốt), chiếm khoảng 4,8% trong tổng giá trị nhập khẩu 331,2 tỷ USD. Việc tăng giá năng lượng sẽ làm tăng giá trị nhập khẩu và gây áp lực lạm phát.

Từ đầu năm đến tháng 2/2022, giá trị nhập khẩu năng lượng đã tăng lên 2,19 tỷ USD, tương đương 5,2% giá trị nhập khẩu 42,14 tỷ USD, cao hơn mức bình quân 4,8% của giai đoạn 2020-2021.

Theo UOB, với sự khởi sắc trong các hoạt động kinh doanh, nhu cầu đối với các sản phẩm năng lượng sẽ tăng song song với việc tăng giá toàn cầu, các cân đối bên ngoài cũng như áp lực lạm phát sẽ bị ảnh hưởng bất lợi, do đó có thể làm giảm cầu trong thời gian tới.

Với những thách thức ở phía trước, UOB dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 của Việt Nam ở mức 6,5%, đã được điều chỉnh giảm so với dự báo trước đó ở mức 6,8%.

UOB cho rằng trong khi áp lực lạm phát đang gia tăng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) có khả năng vẫn giữ chính sách lãi suất phù hợp để hỗ trợ cho các nỗ lực phục hồi, đặc biệt là trong bối cảnh bất ổn do xung đột giữa Nga - Ukraine.

cũng theo UOB, tỷ giá USD/VND đang dần phục hồi từ mức thấp vào cuối tháng 1, sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ bắt đầu chính sách thắt chặt tiền tệ và nâng lãi suất trong tháng 3. Tâm lý trên thị trường ngoại hối tại Châu Á, bao gồm cả VND, tiếp tục bị ảnh hưởng từ hoạt động quân sự của Nga tại Ukraine. Rủi ro trên dòng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã tăng lên trong thời gian gần đây do kỳ vọng tăng lãi suất mạnh mẽ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ.

UOB dự báo Cục Dự trữ Liên bang Mỹ sẽ tăng lãi suất tại mỗi cuộc họp trong số 6 cuộc họp FOMC còn lại cho năm 2022, đưa lãi suất cơ bản của USD lên khoảng 1,75-2,00% vào cuối năm 2022.

"Do đó, chúng tôi giữ quan điểm thận trọng đối với VND và dự báo VND sẽ giảm giá nhẹ so với USD... Chúng tôi tiếp tục dự báo tỷ giá USD/VND đạt mức 23.000 trong quý II/2022, 23.100 trong quý III/2022, 23.200 trong quý IV/2022 và 23.300 trong quý I/2023", UOB dự báo.

Hồng Hạnh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.490 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.190 23.470 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.195 23.495 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.180 23.470 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.230 23.450 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.230 23.460 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.220 23.567 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.209 23.500 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.150 23.440 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.250 23.500 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.100
68.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.100
68.700
Vàng SJC 5c
68.100
68.720
Vàng nhẫn 9999
53.100
54.050
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.650