Việt Nam cần chuẩn bị tài chính cho chuyển đổi năng lượng công bằng

13:37 | 08/12/2022

“Đối với một nền kinh tế như Việt Nam, tài trợ quốc tế sẽ chỉ cung cấp một nguồn vốn bổ sung. Hầu hết các nhu cầu đầu tư sẽ phải được đáp ứng bởi các nguồn vốn trong nước. Vì thế, nâng cao năng lực huy động vốn dài hạn của các định chế tài chính trong nước là cốt lõi của quá trình chuyển đổi khí hậu”. 

Bà Ramla Khalidi - Trưởng đại diện thường trú của UNDP, đã nhấn mạnh điều này trong bài phát biểu khai mạc tại hội thảo “Tài chính cho phát triển – vai trò của các định chế tài chính trong nước” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) và Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) tổ chức ngày 8/12.

Bà Ramla Khalidi đánh giá, cam kết mang tính bước ngoặt của Việt Nam đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 là rất táo bạo và có tầm nhìn. Khi đưa ra cam kết này, Chính phủ ghi nhận việc chuyển đổi từ nhiên liệu hóa thạch có thể mang lại những lợi ích kinh tế hữu hình. Hiện nay đã có bằng chứng cho thấy quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn là bớt đi.

viet nam can chuan bi tai chinh cho chuyen doi nang luong cong bang
Việt Nam sẽ cần phải huy động thêm từ 15 đến 30 tỷ USD mỗi năm để đạt mục tiêu phát thải ròng bằng "O"

Tuy nhiên, không nên đánh giá thấp quy mô của những thách thức đối với Việt Nam và các nước đang trong hành trình hướng tới mức phát thải ròng bằng “0”. Việc giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch sẽ ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế, từ sản xuất điện đến nông nghiệp, xây dựng, sản xuất, và vận tải.

“Các ước tính về chi phí khác nhau tùy thuộc vào các giả định được sử dụng khi tính toán. Tuy nhiên, các ước tính thận trọng cho thấy Việt Nam sẽ cần phải huy động thêm từ 15 đến 30 tỷ USD mỗi năm, tức là đầu tư vượt mức đầu tư thông thường để đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng “0” đồng thời duy trì tăng trưởng kinh tế cao” -  Bà Ramla Khalidi dẫn chứng.

Hệ thống tài chính của Việt Nam đã phát triển và đa dạng hơn, nhưng việc thiếu thị trường thứ cấp sâu rộng và có tính thanh khoản cao đã hạn chế khả năng cung cấp vốn dài hạn. Những vụ việc xảy ra gần đây trên thị trường trái phiếu cho thấy quản trị, công khai thông tin doanh nghiệp và trách nhiệm giải trình là những hạn chế chính đối với sự phát triển của các thị trường thứ cấp năng động.

“Vì thế, cần có chính sách phù hợp nhằm dỡ bỏ những trở ngại để tăng nguồn cung cấp tài chính dài hạn trong nước cho quá trình chuyển đổi năng lượng và các mục đích sử dụng khác”-  Bà Ramla Khalidi khuyến nghị

Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cho biết : “Hiện tại Việt Nam được đưa vào danh sách “ưu tiên hợp tác năng lượng  và đang thảo luận với các quốc gia trên thế giới về các cơ chế tài chính khí hậu quốc tế khác nhau trong hỗ trợ chuyển dịch năng lượng. Tuy nhiên, con số các quốc gia tài trợ cho Việt Nam sẽ chỉ là một phần nhỏ trong chặng đường tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch năng lượng. Chúng ta cần củng cố các định chế tài chính trong nước để đảm bảo tài chính cho doanh nghiệp, đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế xã hội, đầu tư vào các dự án giúp chuyển dịch năng lượng trong trung và dài hạn”.

Bà Yến thông tin, chương trình chung này nhằm hỗ trợ Việt Nam xây dựng Khung Tài chính tích hợp có mục tiêu tổng quát trong nỗ lực cải cách việc huy động, sử dụng và quản lý tài chính cho phát triển, nhằm thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững SDGs đến năm 2030. Trong khuôn khổ Chương trình này, UNDP phối hợp với Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường thực hiện các nghiên cứu “Đánh giá hoạt động các ngân hàng phát triển tại Việt Nam” và “Các thách thức và khuyến nghị để phát triển thị trường vốn tại Việt Nam.”

Đây là những nghiên cứu ban đầu nhằm đưa ra những khuyến nghị và thảo luận chính sách nhằm phát triển thị trường vốn cho doanh nghiệp tư nhân, đảm bảo các nguồn tài chính công đóng góp có hiệu quả vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển. Quan trọng nhất, là các khuyến nghị giúp huy động nguồn lực và sử dụng những khoản đầu tư có hiệu quả, mang lại các kết quả phát triển bền vững.

Tại sự kiện, các nhà nghiên cứu từ Chương trình chung hỗ trợ Việt Nam xây dựng Khung Tài chính tích hợp (INFF), các nhà kinh tế từ UNCTAD và SOAS, Đại học London  và các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm về tài chính khí hậu ở các bối cảnh phát triển khác nhau đã chia sẻ các tiền lệ trên toàn cầu và đóng góp tiềm năng của ngân hàng phát triển cho chuyển đổi năng lượng của Việt Nam.  Các chuyên gia  đề xuất thành lập “Ngân hàng Khí hậu Việt Nam” để góp phần tài trợ năng lượng dài hạn thông qua cung cấp bảo lãnh cho các khoản vay ngân hàng thương mại, tổ chức việc thực hiện tài chính có cấu trúc cho các dự án chậm triển khai và có thể là mua cổ phần trong các dự án mang lại lợi ích xã hội quan trọng.

Hà An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700