Việt Nam tỏa sáng trong một năm đặc biệt

14:02 | 13/01/2021

Nhờ những biện pháp ngăn chặn dịch bệnh COVID-19 hiệu quả, Việt Nam là một trong những quốc gia có tăng trưởng GDP cao nhất thế giới trong năm 2020. Nền kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục tỏa sáng và dự báo GDP sẽ tăng trưởng mạnh mẽ ở mức 7,6% vào năm 2021.

Đây là nhận định vừa được Khối Nghiên cứu Kinh tế Toàn cầu của HSBC đưa ra trong báo cáo mới nhất.

Khả năng hồi phục chưa từng thấy

Mặc cho những thách thức chưa từng diễn ra trước đây, nền kinh tế Việt Nam đã cho thấy khả năng phục hồi mạnh mẽ. Đây là một trong số ít nền kinh tế đạt mức tăng trưởng dương trong năm 2020 với tỷ lệ 2,9% - nhờ vào tổ hợp các yếu tố tích cực bao gồm các biện pháp ngăn chặn virus sớm một cách hiệu quả, nhanh chóng quay lại hoạt động bình thường và xuất khẩu các mặt hàng điện tử bùng nổ.

viet nam toa sang trong mot nam dac biet
Nhu cầu cơ sở hạ tầng của Việt Nam vẫn cao. (Nguồn: CEIC, HSBC)

Với bên ngoài, Việt Nam đã có thể chống lại sự gián đoạn chuỗi cung ứng và đang trên đà phục hồi ổn định. Trong khi đó, nhu cầu trong nước cũng duy trì rất tốt, với tiêu dùng tư nhân hồi phục một cách tương đối nhờ vào sự giảm thiểu tác động của dịch bệnh.

Kết thúc năm 2020 với thắng lợi mạnh mẽ, Việt Nam sẽ khởi động năm 2021 với một sự kiện chính trị quan trọng, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 13. Đại hội này sẽ đặt ra những ưu tiên kinh tế mới trong giai đoạn năm đến mười năm tới. Tất cả sự chú ý đều dồn về việc làm sao Việt Nam thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế với những đối tác thương mại lớn cũng như đẩy mạnh quá trình cải cách đang diễn ra. Cụ thể, chúng tôi cho rằng phát triển cơ sở hạ tầng và tăng tốc quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước có thể là hai vấn đề của chương trình nghị sự.

Mặc cho những khó khăn kéo dài, các chuyên gia HSBC vẫn lạc quan về triển vọng phát triển của Việt Nam. “Chúng tôi tin rằng, Việt Nam sẽ hưởng lợi từ các FTA, dòng vốn FDI ổn định và công nghệ sẽ dẫn đầu quá trình phục hồi. Chúng tôi kỳ vọng nền kinh tế sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2021 với mức tăng trưởng GDP đạt 7,6%”, các chuyên gia cho biết trong báo cáo.

Trong khi đó, áp lực lạm phát có khả năng tiếp tục ở mức vừa phải. Chúng tôi dự báo lạm phát toàn phần ở mức trung bình khoảng 3,3% vào năm 2021, thấp hơn mức trần lạm phát 4% của NHNN.

Năm 2021 sẽ tiếp tục tươi sáng

Cụ thể trong năm 2021, có nhiều lý do để tin rằng đà phát triển mạnh mẽ của Việt Nam sẽ còn tiếp tục. Về mặt đối ngoại, thương mại của Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ nhiều FTA mà Việt Nam đã ký kết trong năm 2020, bao gồm cả EVFTA, RCEP và UKVFTA.

Mức thuế thấp hơn và khả năng tiếp cận các thị trường chính rộng mở hơn sẽ mang lại lợi thế so sánh cho các nhà xuất khẩu Việt Nam và giúp đa dạng hóa các điểm đến xuất khẩu của họ, trong khi dòng vốn FDI vào Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục vì Việt Nam vẫn là một điểm đầu tư hấp dẫn.

Quay trở lại kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, cơ sở hạ tầng được coi là ưu tiên kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực như giao thông và năng lượng. Trong đó đề cập đến việc xây dựng ba dự án trọng điểm quốc gia là đường cao tốc Bắc Nam, đường sắt Bắc Nam và sân bay quốc tế Long Thành. Tuy nhiên, một số dự án đang triển khai chậm trễ. Ví dụ, giai đoạn 1 của sân bay Long Thành dự kiến ​​bắt đầu trong giai đoạn 2016-2020, nhưng dự án này chỉ mới bắt đầu vào ngày 5/1/2021.

Trong các báo cáo trước đây, HSBC đã nêu rõ một tình huống khó xử mà Việt Nam đang phải đối mặt: Không gian tài chính hạn chế do nợ công tăng cao trong bối cảnh tham vọng thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng. May mắn thay, các nhà chức trách Việt Nam đã theo đuổi cải cách cơ cấu trong lĩnh vực này.

Vào năm 2020, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) được mong đợi từ lâu đã được thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/1/2021, nhằm giải quyết các vấn đề còn tồn tại liên quan đến các nhà đầu tư tư nhân và khuyến khích họ tham gia vào các dự án lớn.

Bên cạnh đó, một trọng tâm chính khác có lẽ tập trung vào quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Quá trình này đã bị chậm lại đáng kể kể từ năm 2016. Từ năm 2016 đến tháng 9/2020, chỉ có 37 trong số 128 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa, chưa đạt 30% so với mục tiêu đề ra.

Trong khi đại dịch đóng một vai trò nào đó, các yếu tố như kiểm toán và quản lý đất đai có thể đã làm chậm quá trình này (theo nguồn ADBI, tháng 1/2020). Trong khi đó, Bộ Tài chính đang xây dựng kế hoạch tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2021-2025, và điều này có thể chuyển thành một lộ trình chi tiết hơn trong thời gian sắp tới.

ĐP

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.955 23.165 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.975 23.175 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.934 23.177 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.970 23.165 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.980 23.160 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.977 23.189 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.946 23.171 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.950
56.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.950
56.500
Vàng SJC 5c
55.950
56.520
Vàng nhẫn 9999
54.800
55.350
Vàng nữ trang 9999
54.450
55.150