Vui tăng trưởng cao, vẫn lo lạm phát

10:24 | 04/07/2022

Hiện lạm phát đang được xem là “con ngựa bất kham” trên toàn cầu. Với Việt Nam, điều may mắn là lạm phát vẫn được kiểm soát dưới mức mục tiêu mà Quốc hội, Chính phủ đã đề ra. Thậm chí theo các chuyên gia kinh tế, trường hợp kinh tế phục hồi mạnh, tăng trưởng vượt mức mục tiêu trong năm nay, thì việc lạm phát cao hơn mục tiêu 4% một chút cũng là điều hoàn toàn có thể chấp nhận được. Nhưng không được để lạm phát vượt ngoài tầm kiểm soát.

vui tang truong cao van lo lam phat Hóa giải áp lực lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng
vui tang truong cao van lo lam phat Kiểm soát lạm phát là nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng

Áp lực ngày càng lớn

Nền kinh tế đi qua 6 tháng với tín hiệu rất khả quan là tăng trưởng GDP đạt 6,42%, tức là gần như đã trở về ngưỡng cùng kỳ các năm trước đại dịch. Trong bối cảnh nhiều nền kinh tế phát triển đang loay hoay ứng phó với lạm phát và áp lực lạm phát cũng được cảnh báo với Việt Nam, việc CPI bình quân 6 tháng đầu năm chỉ tăng ở mức 2,44% cũng có thể được xem là tin mừng.

Câu hỏi đặt ra là vì sao lạm phát ở Việt Nam lại không “thuận chiều” theo đà tăng cao ở các nền kinh tế phát triển? Theo lý giải của các chuyên gia tại Tổng cục Thống kê, vấn đề nằm chính ở các yếu tố mà hiện các nền kinh tế lớn như Mỹ, châu Âu… đang phải đối mặt. Ví dụ, xăng dầu chiếm tỷ trọng cao trong rổ hàng hóa (vào khoảng 8-10% tại Mỹ; khoảng 7% tại châu Âu…) nên giá mặt hàng này tăng đã ảnh hưởng lớn đến lạm phát ở các nước nền kinh tế này. Trong khi đó, tại Việt Nam, mặt hàng xăng dầu chỉ chiếm tỷ trọng gần 3,6%, vì vậy tác động sẽ nhỏ hơn. Hay giá lương thực, thực phẩm tăng cao do xung đột Nga - Ukraine cũng đang là yếu tố thúc đẩy lạm phát tại nhiều nền kinh tế. Nhưng tại Việt Nam, giá các mặt hàng này tương đối ổn định trong 6 tháng qua, thậm chí giá thực phẩm còn giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi nhóm hàng này chiếm tỷ trọng lớn nhất nên đã giúp kiềm chế đà tăng CPI.

vui tang truong cao van lo lam phat
Giá nhiều mặt hàng tiêu dùng đang có xu hướng tăng theo giá xăng

Tuy nhiên nhìn lại diễn biến từng tháng, thực tế giá nhiều loại hàng hóa tiêu dùng gần đây cũng đã tăng khá mạnh theo đà tăng của giá xăng dầu và điều này cũng có thể nhìn thấy trong diễn biến chỉ số CPI các tháng. Ví dụ với nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, ngoại trừ tháng 2 tăng do có Tết Âm lịch thì đều giảm trong các tháng 1, 3 và 4; nhưng đã bắt đầu tăng mạnh trong tháng 5 (tăng 0,27%, làm CPI chung tăng 0,09%); và tháng 6 (tăng 0,8%, tác động CPI chung tăng 0,27%). Trong khi đó, do ảnh hưởng của các đợt tăng giá xăng dầu từ đầu năm đến nay nên nhóm giao thông thường xuyên có mức tăng cao và “đóng góp đều đặn” trong danh sách các nhóm khiến CPI tăng mỗi tháng.

Phân tích như vậy để thấy, thực tế lạm phát 6 tháng đầu năm dù vẫn giữ được ở mức thấp, nhưng không thể chủ quan với áp lực lạm phát và thực tế trước tác động của giá xăng dầu tăng liên tục; giá hàng hóa nguyên vật liệu đầu vào tăng kéo dài theo độ trễ cũng đã bắt đầu phản ảnh vào mặt bằng giá của nhiều hàng hóa tiêu dùng.

Cẩn trọng trong điều hành

Theo bà Nguyễn Thu Oanh - Vụ trưởng Vụ Thống kê giá, Tổng cục Thống kê, có một số yếu tố có thể khiến CPI tăng cao trong các tháng cuối năm. Trong đó, giá nguyên nhiên vật liệu trên thế giới đang ở mức cao mà Việt Nam là nước phải nhập khẩu khá nhiều nên sẽ ảnh hưởng đến chi phí, giá thành, tạo áp lực cho sản xuất của doanh nghiệp và từ đó đẩy giá hàng hóa tiêu dùng trong nước tăng lên, tạo áp lực cho lạm phát toàn nền kinh tế.

vui tang truong cao van lo lam phat

Bên cạnh đó, giá lương thực, thực phẩm có khả năng tiếp tục tăng trong các tháng tới khi nhu cầu tiêu dùng của người dân đang tăng trở lại như thời gian trước khi đại dịch diễn ra. “Chúng ta có lợi thế là chủ động được về nguồn lương thực, thực phẩm ở trong nước, tuy nhiên cũng sẽ khó tránh khỏi ảnh hưởng khi thế giới đang đối mặt với nguy cơ khủng hoảng lương thực. Mà nhóm hàng lương thực, thực phẩm có quyền số khá cao, gần 28% trong rổ hàng hóa tính CPI, do đó biến động giá của nhóm hàng này sẽ có tác động mạnh tới CPI chung”, bà Oanh nói.

Như vậy, đang có nhiều yếu tố cùng lúc có thể đẩy lạm phát tăng. Do đó về vĩ mô, việc tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát luôn phải là ưu tiên hàng đầu. Bên cạnh đó, qua diễn biến giá cả thực tế những tháng qua, có thể thấy các yếu tố có khả năng tác động mạnh đến lạm phát trong những tháng tới chính là giá xăng dầu và các mặt hàng lương thực, thực phẩm.

Với xăng dầu, tất nhiên chúng ta không thể cố định được giá, nhưng phải vận dụng các công cụ đang có để ghìm được đà tăng mạnh. Các đề xuất mới đây của Bộ Tài chính về việc tiếp tục giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn; giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng và giảm thuế giá trị gia tăng đối với xăng dầu vì vậy là những động thái tích cực. Vấn đề lúc này là cần trình sớm và thậm chí có các cơ chế đặc biệt để thông qua và đưa vào hiệu lực nhanh nhất có thể.

Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường - Đại biểu Quốc hội, việc giảm các loại thuế đối với xăng dầu sẽ khiến giảm thu ngân sách nhưng việc chấp nhận giảm thu để giữ giá xăng dầu ổn định là rất cần thiết lúc này. “Giữ giá xăng dầu ổn định sẽ giảm được tác động tăng của mặt bằng giá hàng hóa khác, qua đó giúp kiểm soát lạm phát. Đây là yếu tố hết sức quan trọng để giúp cho các doanh nghiệp và nền kinh tế phục hồi”, GS.TS. Hoàng Văn Cường nêu quan điểm.

Nhiều chuyên gia cũng đồng tình cho rằng, giải pháp giảm thuế để chia sẻ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp trong giai đoạn giá xăng dầu tăng cao là cần thiết. “Giảm thuế để giảm giá xăng dầu nên được coi là khoản đầu tư. Bởi khi doanh nghiệp phục hồi, phát triển và đóng góp trở lại cho đất nước thì chúng ta sẽ được nhiều hơn so với việc giữ nguyên thu thuế từ xăng dầu như hiện nay”, một chuyên gia nêu ý kiến.

Với giá lương thực, thực phẩm, bà Nguyễn Thu Oanh cho rằng các bộ, ngành, địa phương cần chủ động chuẩn bị nguồn hàng nhằm đảm bảo đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu của người dân. Đặc biệt đối với mặt hàng thịt lợn đang có xu hướng tăng giá trở lại gần đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần chú trọng công tác bảo đảm nguồn cung, nhất là giai đoạn cuối năm. Bộ Công thương và các địa phương phải tăng cường kiểm soát các khâu trung gian, lưu thông trên thị trường nhằm ổn định giá của mặt hàng này.

Bên cạnh đó, cần rất cẩn trọng với một yếu tố khó kiểm soát nhất là lạm phát kỳ vọng. Bên cạnh đó là các hành vi trục lợi, “té nước theo mưa”. Theo các chuyên gia, các giải pháp vì vậy cũng cần rất tập trung vào những vấn đề này.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.260 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.246 23.532 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.350
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.850