Xuất khẩu của Nhật Bản giảm do nhu cầu yếu từ Mỹ và Trung Quốc

11:25 | 17/03/2021

Xuất khẩu của Nhật Bản đã giảm nhanh hơn nhiều so với dự kiến ​​trong tháng Hai do nhu cầu giảm từ Mỹ và Trung Quốc. Điều này làm dấy lên lo ngại đối với các nỗ lực phục hồi của nền kinh tế lớn thứ ba thế giới.

xuat khau cua nhat ban giam do nhu cau yeu tu my va trung quoc Nhật Bản với hợp tác năng lượng ở Tiểu vùng Mekong
xuat khau cua nhat ban giam do nhu cau yeu tu my va trung quoc Đầu tư của Nhật Bản tiếp tục sụt giảm khi các công ty thắt chặt hầu bao
xuat khau cua nhat ban giam do nhu cau yeu tu my va trung quoc
Ảnh minh họa

Tuy nhiên, triển vọng phục hồi của Mỹ sáng hơn có thể làm giảm bớt đối với triển vọng kinh tế Nhật Bản, vốn được cho là đang chậm lại trong quý hiện tại do các biện pháp hạn chế COVID-19 mới ảnh hưởng đến hoạt động của lĩnh vực dịch vụ.

Dữ liệu của Bộ Tài chính Nhật Bản cho thấy, xuất khẩu của Nhật Bản đã giảm 4,5% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng Hai, do sự sụt giảm xuất khẩu ô tô đến thị trường Mỹ.

“Tăng trưởng xuất khẩu của Nhật Bản có thể suy yếu hơn trong quý này, nhưng xu hướng tăng vẫn còn. Nền kinh tế Trung Quốc sẽ phục hồi trở lại khi các ca lây nhiễm COVID-19 mới giảm dần, và việc triển khai vắc-xin cùng các gói kích thích khổng lồ sẽ tạo động lực cho nền kinh tế Mỹ, tất cả sẽ giúp đẩy nhanh xuất khẩu của Nhật Bản và nền kinh tế này có thể tăng tốc trong quý II", Masaki Kuwahara, nhà kinh tế cấp cao của Nomura Securities nhận định.

Đây là lần giảm đầu tiên trong 3 tháng gần đây, trước đó xuất khẩu của Nhật Bản tăng 6,4% trong tháng Một. Con số này cũng lớn hơn nhiều so với dự đoán giảm 0,8% của các nhà kinh tế đưa ra trong một cuộc thăm dò của Reuters.

Tính theo khu vực, xuất khẩu của Nhật Bản sang Trung Quốc tăng 3,4% trong 2 tháng đầu năm nay, dẫn đầu là linh kiện làm chip, kim loại màu và nhựa. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu tháng Hai đã giảm mạnh so với mức tăng 37,5% trong tháng trước, một phần do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán.

Các lô hàng đến Mỹ - một thị trường xuất khẩu quan trọng khác của Nhật Bản, đã giảm 14% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng Hai, do nhu cầu ô tô, phụ tùng máy bay và động cơ giảm, sau khi giảm 4,8% trong tháng trước - ghi nhận tháng thứ tư liên tiếp suy giảm.

Dữ liệu mới công bố cũng cho biết xuất khẩu sang châu Á - thị trường chiếm hơn một nửa tổng số hàng xuất khẩu của Nhật Bản, đã giảm 0,8% trong 2 tháng đầu năm, trong khi xuất khẩu sang Liên minh châu Âu giảm 3,3%.

Dữ liệu thương mại được đưa ra trước thềm cuộc họp chính sách kéo dài 2 ngày của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ), mà tại đó BoJ có thể giảm dần hoạt động mua tài sản rủi ro theo con số mục tiêu đã đề ra, lưu ý tới chi phí đang gia tăng trong việc duy trì chính sách nới lỏng do các biện pháp kích thích của Thống đốc Haruhiko Kuroda.

Cuộc thăm dò của Reuters cho thấy, các nhà sản xuất tại Nhật Bản vẫn tỏ ra lạc quan về sự phục hồi "từng bước", mặc dù lo lắng về tác động COVID vẫn còn.

Nhập khẩu của Nhật Bản tăng 11,8% trong 2 tháng đầu năm, sau khi giảm 9,5% trong tháng trước, mang lại thặng dư thương mại 217,4 tỷ yên (khoảng 2 tỷ USD).

Nhập khẩu đánh dấu mức tăng hàng năm đầu tiên trong 22 tháng do nhu cầu trong nước tăng, lượng hàng tồn kho tăng, giá dầu thô và tài nguyên tăng.

Đại Hùng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.827 23.047 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.846 23.058 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.825 23.045 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.880 23.060 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.950
57.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.950
57.550
Vàng SJC 5c
56.950
57.570
Vàng nhẫn 9999
53.100
53.700
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.400