Xuất khẩu gỗ và lâm sản hướng tới mục tiêu 14 tỉ USD

09:02 | 08/01/2021

Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) vừa tổ chức Hội nghị Tổng kết năm 2020, triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2021. 

xuat khau go va lam san huong toi muc tieu 14 ti usd

Tại hội nghị, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Phạm Văn Điển cho biết, về cơ bản năm 2020 ngành Lâm nghiệp hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu kế hoạch được giao: Năm 2020, cả nước đã trồng được 230.288 ha rừng, đạt 105% so với kế hoạch. Nhờ đẩy mạnh công tác trồng và bảo vệ rừng, tỉ lệ che phủ rừng đã không ngừng tăng và đạt 42%.

Năm 2020 cả số vụ vi phạm và diện tích rừng bị thiệt hại đều giảm so với năm 2019. Cả nước đã phát hiện 10.931 vụ vi phạm giảm 2% so với cùng kỳ năm 2019. Tổng diện tích rừng bị thiệt hại năm 2020 là 1.513ha, giảm 1.062ha so với năm 2019. Về khai thác gỗ đạt khoảng 30 triệu m3 gỗ, đạt 105% kế hoạch năm, đáp ứng 80% nhu cầu nguyên liệu cho chế biến.

Trong năm 2020, mặc dù tác động của dịch Covid-19 gây ảnh hưởng đến sản xuất chế biến và tiêu sản phẩm gỗ và lâm sản, Tổng cục Lâm nghiệp đã luôn chủ động, thường xuyên phối hợp với các hiệp hội, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản để nắm bắt tình hình. Từ đó, đó tham mưu để Bộ NN&PTNT có các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Đồng thời Tổng cục Lâm nghiệp cũng theo dõi và hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện và xử lý các vụ tranh chấp thương mại quốc tế.

Qua đó đã giúp các doanh nghiệp giảm bớt khó khăn, khôi phục và ổn định sản xuất để duy trì tăng trưởng của ngành. Kết quả, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản năm 2020 đạt khoảng 13,17 tỷ USD, tăng 16,4% so với năm 2019, xuất siêu cả năm của ngành lâm nghiệp ước đạt 10,5 tỷ USD, tăng 17,9% so với năm 2019. Ngoài ra, cũng trong năm 2020, cả nước thu được 2.566,8 tỷ đồng từ dịch vụ môi trường rừng, trong đó Quỹ dịch vụ môi trường rừng Trung ương thu 1.604 tỷ đồng, Quỹ địa phương thu 962,1 tỷ đồng.

Năm 2021, ngành lâm nghiệp đề ra mục tiêu phấn đấu: trồng rừng tập trung 230.000 ha (rừng phòng hộ, đặc dụng, rừng sản xuất); khoanh nuôi tái sinh rừng 150.000 ha, trồng 200 triệu cây phân tán; khai thác gỗ rừng sản xuất khoảng 32 triệu m3 (rừng sản xuất tập trung 21,5 triệu m3; khai thác cây trồng phân tán, gỗ vườn nhà 5,5 triệu m3; gỗ cao su 5 triệu m3, phấn đấu kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt 14 tỷ USD, thu dịch vụ môi trường rừng 2.800 tỷ đồng.

Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho rằng năm 2020 ngành lâm nghiệp đã phải đối mặt với ba thách thức lớn: Đó là đại dịch COVID-19, đặc biệt là quý 1 và quý 2-2020 khi chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy. Bên cạnh đó là tác động của biến đổi khí hậu, sự dị thường của thời tiết suốt từ đầu năm đến cuối năm. Cạnh tranh thương mại toàn cầu khiến xuất khẩu gỗ và đồ gỗ phải cạnh tranh với 2 nước có thị phần lớn nhất là Hàn Quốc và Mỹ.

Tuy nhiên với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ đã khống chế được dịch Covid-19; cùng với đó là sự vào cuộc tích cực, chủ động của lãnh đạo Bộ NN&PTNT, lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp, sản xuất, chế biến đồ gỗ và lâm sản đã phục hồi nhanh chóng, cả năm tiếp tục tăng trưởng mạnh. Tăng trưởng của ngành lâm nghiệp năm 2020 chính là “cứu cánh” giúp toàn ngành nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng, đạt được kim ngạch xuất khẩu đề ra. Tăng trưởng của ngành lâm nghiệp không chỉ giúp nông nghiệp tăng trưởng mà đằng sau đó là thu nhập của người lao động, sinh kế của người trồng rừng.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng chỉ ra những tồn tại, nút thắt để ngành lâm nghiệp giải quyết trong thời gian tới như tỉ lệ che phủ rừng ở 3 khu vực trọng điểm là Tây Bắc, Tây Nguyên và rừng ven biển vẫn chưa hoàn toàn yên tâm về an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, địa hình… Bên cạnh đó, việc khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển rừng đã có nhiều chính sách nhưng chưa thỏa đáng; chính sách hỗ trợ còn bất cập nên chưa khuyến khích người dân, kể cả chủ hộ cá nhân hay đơn vị tham gia phục hồi, phát triển rừng.

Bộ trưởng ghi nhận và biểu dương những đóng góp của ngành lâm nghiệp năm 2020, đồng thời mong muốn năm 2021, ngành lâm nghiệp tiếp tục phấn đấu các mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng, trong đó cần quan tâm hơn nữa đến công tác trồng rừng vừa bảo vệ môi trường sinh thái vừa góp phần đẩy mạnh trồng rừng sản xuất cung cấp nguyên liệu phục vụ sản xuất, chế biến, đưa ngành lâm nghiệp của đất nước tiếp tục phát triển bền vững, góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho người trồng rừng.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng yêu cầu Tổng cục Lâm nghiệp sớm hoàn thiện Đề án Trồng một tỷ cây xanh giai đoạn 2021 - 2025, do Thủ tướng Chính phủ phát động. Đồng thời, tổng kết 10 năm Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng; hoàn thiện Đề án Thí điểm cho thuê môi trường rừng để nuôi trồng, phát triển cây dược liệu, trên cơ sở bảo vệ bền vững môi trường rừng…

M.T

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.660 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.642 22.862 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.657 22.872 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.648 22.858 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.860 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.700
57.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.700
57.350
Vàng SJC 5c
56.700
57.370
Vàng nhẫn 9999
50.500
51.400
Vàng nữ trang 9999
50.100
51.100