17:00 | 10/01/2018

Các ngân hàng tái cơ cấu hoạt động thế nào

Lãnh đạo NHNN cho biết, nhiều ngân hàng tái cơ cấu đã thu hút được khách hàng trở lại trong năm 2017

Bổ sung “can thiệp sớm” vào các biện pháp xử lý trong giám sát ngân hàng
2018: Sacombank cạnh tranh bằng sự khác biệt hóa
Thay đổi để thành công

Kết thúc năm 2017 huy động tiền gửi của GPBank tăng 3,9%, dư nợ cho vay tăng 11,4% so với cuối năm 2016. Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Tuân, Chủ tịch Hội đồng thành viên CB cho biết, quy mô các hoạt động kinh doanh của CB trong năm qua tăng trưởng mạnh so trước thời điểm 5/3/2015, với số dư huy động vốn tăng hơn 5.000 tỷ đồng.

Lãnh đạo NHNN cho biết, nhiều ngân hàng tái cơ cấu đã thu hút được khách hàng trở lại trong năm 2017

Một ngân hàng khác cũng cần nhắc đến là DongA Bank, ngân hàng này hiện đang giữ ổn định thanh khoản và nguồn vốn của ngân hàng tiếp tục có sự chuyển dịch tích cực từ ngắn hạn sang trung dài hạn. Cụ thể, tiền gửi ngắn hạn dù chịu ảnh hưởng bởi các thông tin tiêu cực nhưng tiền gửi trung dài hạn vẫn tăng tương đương 2%. Sự dịch chuyển nguồn tiền gửi này đã giúp DongA Bank có được nguồn vốn ổn định và bền vững để phát triển kinh doanh. Theo đó, tính đến thời điểm cuối năm 2017, các tỷ lệ an toàn vốn vẫn đảm bảo theo quy định, cụ thể tỷ lệ dự trữ thanh khoản quy đổi là 26%, tỷ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày tiếp theo đối với VND là 96%, đối với ngoại tệ là 73%...

Được biết, kể từ sau ngày kiểm soát đặc biệt (13/8/2015), ban lãnh đạo mới hiện nay của DongA Bank cho biết ngân hàng liên tục bám sát mục tiêu thực hiện đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ. Trong đó các sản phẩm phi tín dụng, giao dịch bằng phương tiện điện tử để tăng thêm thu nhập cho ngân hàng.

Đáng kể nhất như ngân hàng này đã triển khai thành công việc hợp tác với Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ AIA Việt Nam trong phát triển mảng bancassurance, triển khai thanh toán hóa đơn điện, nước cho các công ty điện lực (Đồng Tháp, Kiên Giang,) công ty cấp nước (Bạc Liêu, Đà Nẵng)…

Mặc dù còn có những khó khăn nhưng trong 12 tháng qua số lượng khách hàng của DongA Bank đã tăng thêm 23.200 khách hàng cá nhân và 100 khách hàng DN. “Việc tập trung phát triển dịch vụ, thu dịch vụ ngoài lãi đang giúp ngân hàng cân bằng lại nội lực vốn có”, một lãnh đạo của DongA Bank chia sẻ.

Cũng nằm trong quá trình tái cơ cấu nhưng năm 2017 Sacombank đã đạt được các chỉ tiêu kinh doanh tốt, theo đó tổng tài sản đạt hơn 364.000 tỷ đồng, tăng 10,6% so với đầu năm, tổng vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư đạt gần 323.000 tỷ đồng, tăng 11,4%, dư nợ tín dụng hơn 219.000 tỷ đồng, tăng 12,6%. Đặc biệt, tỷ suất sinh lời của Sacombank dần được cải thiện với tổng thu nhập đạt 8.200 tỷ đồng, tăng 33% so với năm trước, tạo nguồn lực tài chính để xử lý các tồn đọng của giai đoạn trước.

Một lãnh đạo Sacombank chia sẻ, năm 2017 nguồn thu dịch vụ đạt 2.395 tỷ đồng, trong đó thu dịch vụ truyền thống tăng 29,6% so với năm trước. Sacombank tiếp tục theo đuổi xu hướng tăng thu từ dịch vụ trong năm 2018 để chỉ duy trì ổn định, đảm bảo thanh khoản, tăng huy động tiền gửi và mở rộng cho vay.

Các lãnh đạo NHTM thừa nhận, giải quyết được những vấn đề tồn đọng, giải pháp tốt nhất để tái cơ cấu thật sự các ngân hàng phải hướng nguồn vốn vào phát triển dịch vụ. Cùng quan điểm, ông Josh Bottomley, Giám đốc toàn cầu phụ trách kỹ thuật số, Khối dịch vụ tài chính cá nhân và quản lý tài sản thuộc Tập đoàn HSBC, cho biết các ngân hàng theo đuổi mô hình ngân hàng bán lẻ đã hình dung rõ hơn về nhu cầu của khách hàng. Từ đó, có thể điều chỉnh và cá nhân hóa các dịch vụ ngân hàng của họ trong năm 2018.

Theo một kết quả điều tra, năm 2017 có đến 64,5% lãnh đạo ngân hàng nhận định tổng nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng trong quý IV/2017 tăng rõ rệt so với quý III/2017. Do đó, năm 2018, có tới 59% TCTD kỳ vọng tổng nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ của ngân hàng tiếp tục tăng trong quý I/2018 và 78,1% TCTD kỳ vọng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng có sự gia tăng trong cả năm 2018 so với năm 2017.

Theo ông Josh Bottomley, các ngân hàng ngày càng có xu hướng đưa ra các “cú hích” về thời điểm thích hợp để tiết kiệm, hoặc các lựa chọn bảo hiểm nhà ở khi hợp đồng bảo hiểm hiện tại sắp hết hạn, dùng nhiều giải pháp kích thích người tiêu dùng tham gia giao dịch tài chính mới... Do đó, các ngân hàng cần có chiến lược để vượt qua những thách thức tâm lý nêu trên thì việc kinh doanh năm 2018 hứa hẹn là năm để “ngân hàng tỏa sáng”.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.785 22.855 26.231 26.545 30.927 30.407 202,93 208,26
BIDV 22.785 22.855 26.238 26.545 29.940 30.395 204,61 207,63
VietinBank 22.775 22.855 26.211 26.589 29.913 30.473 204,40 207,80
Agribank 22.770 22.845 26.173 26.491 29.929 30.349 204,10 207,27
Eximbank 22.780 22.870 26.244 26.586 30.062 30.453 205,32 208,00
ACB 22.800 22.870 26.266 26.595 30.154 30.455 205,28 207,85
Sacombank 22.788 22.873 26.295 26.658 30.138 30.497 205,26 208,33
Techcombank 22.765 22.865 25.998 26.700 29.724 30.546 203,68 208,98
LienVietPostBank 22.770 22.860 26.187 26.633 30.084 30.492 204,61 208,22
DongA Bank 22.790 22.860 26.290 26.590 30.070 30.440 203,80 207,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.800
37.000
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.800
36.980
Vàng SJC 5c
36.800
37.000
Vàng nhẫn 9999
35.960
36.360
Vàng nữ trang 9999
35.610
36.310