Chỉ số kinh tế:
Ngày 25/9/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.641 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.409/26.873 đồng/USD. Kinh tế tháng 8/2026 ghi nhận nhiều chuyển động đáng chú ý khi IIP tăng 1,5% so với tháng trước, số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8 tăng 1,0%. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có xu hướng giảm, với gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 14,4%; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5%; 5.322 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0%; 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1%, trong khi 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng, chi 238,1 nghìn tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1%; trong đó xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2%, nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, cán cân thương mại nhập siêu 0,12 tỷ USD. CPI tăng 0,47%, trong khi chỉ số giá vàng giảm 0,65% và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38%. Vận tải hành khách đạt 658,6 triệu lượt khách, vận tải hàng hóa đạt 324,0 triệu tấn; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Dân số vàng và cơ cấu lạc hậu

Đỗ Lê
Đỗ Lê  - 
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không phải là câu chuyện chỉ làm trong ngày một, ngày hai mà cần có một chiến lược lâu dài và được thực hiện bền bỉ, liên tục. 
aa
Dân số vàng và cơ cấu lạc hậu Nguồn nhân lực và cơ hội hội nhập
Dân số vàng và cơ cấu lạc hậu Chuẩn bị nguồn nhân lực cho CMCN 4.0
Dân số vàng và cơ cấu lạc hậu Nâng “chất” nhân lực bằng gắn kết

Việt Nam vẫn nằm trong giai đoạn có dân số vàng nên không thiếu lao động xét về số lượng nhưng vẫn quá thiếu lao động chất lượng. Và cơ cấu dân số vàng sẽ qua đi rất nhanh.

Năng suất tăng 6%/năm - chỉ tiêu không dễ đạt

“Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến năng suất lao động (NSLĐ) của một quốc gia. Tại Việt Nam, ai cũng nhận ra điều này nhưng cần làm gì và làm như thế nào để thay đổi thực trạng chất lượng nguồn nhân lực lại không dễ trả lời”. Đây là lời nhận xét của GS. John FitzGerald (Khoa Kinh tế, Đại học Trinity Dublin, Ai Len) đưa ra trong một Hội thảo về “Năng suất và đổi mới sáng tạo của nền kinh tế Việt Nam” được tổ chức mới đây.

Kế hoạch kinh tế - xã hội giai đoạn 2017-2020 đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân 6,5-7%, việc làm tăng bình quân 0,7 triệu người tương đương 1,3%/năm. Như vậy, dự kiến NSLĐ cần tăng bình quân ở mức 6%/năm. Đây là điều không dễ đạt được bởi nhìn lại giai đoạn 2006-2016, NSLĐ quốc gia tăng khá thấp, chỉ đạt trung bình 4%/năm dù đã có sự cải thiện tích cực trong những năm cuối của giai đoạn này. Muốn nâng cao NSLĐ phải cải thiện chất lượng và hiệu quả phân bổ nguồn nhân lực.

Dân số vàng và cơ cấu lạc hậu

TS. Gyorgy Sziraczki, nguyên Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam từng nhận định, Việt Nam có nguồn lao động trẻ và dồi dào, mở ra nhiều cơ hội nhưng trình độ kỹ năng và chuyên môn thấp của người lao động lại cản trở Việt Nam nắm bắt những cơ hội không dễ có được. Mười năm qua, cơ cấu lao động đã có những thay đổi theo hướng tăng tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật nhưng vẫn thiếu hụt đáng kể đội ngũ lao động bậc trung và bậc cao – đội ngũ cần thiết cho mô hình của một nước công nghiệp có thu nhập trung bình mà Việt Nam đã bắt đầu chạm tới.

Với mô hình nước công nghiệp có thu nhập trung bình thì 30-40% lực lượng lao động phải là lao động bậc trung nhưng đến năm 2016 mới có 8,5%. Như vậy cơ cấu nguồn nhân lực của Việt Nam rất lạc hậu so với chất lượng lao động của các nước trong khu vực như Thái Lan (công nghiệp giai đoạn giữa) hay Malaysia và Singapore (công nghiệp giai đoạn cuối).

Ngay cả với những lao động được xếp vào lao động có chuyên môn kỹ thuật cao (tốt nghiệp cao đẳng trở lên) nhưng chất lượng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường vì thế tỷ lệ thất nghiệp của các nhóm này vẫn ở mức cao trong khi nơi cần người vẫn không tìm đủ số nhân lực cần tuyển.

Xóa dần sự phụ thuộc vào lao động giá rẻ

PGS.TS. Nguyễn Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội, Bộ LĐTB&XH, cho rằng đến năm 2030, cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực 2 giai đoạn. Từ nay đến năm 2020, cần tập trung vào chiều rộng, tức là vẫn phải dựa vào các ngành sử dụng nhiều lao động, hướng về xuất khẩu, phát huy được các lợi thế so sánh và tiềm năng của lực lượng lao động nhưng dần xóa bỏ sự phụ thuộc vào lao động giá rẻ, kỹ năng thấp. Giai đoạn sau (2021-2030), phát triển nguồn nhân lực cần tập trung vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của các ngành công nghiệp, dịch vụ yêu cầu công nghệ và kỹ năng cao nhằm đạt mức NSLĐ trung bình trong khu vực.

Bà Hương lưu ý, để cho cung cầu của thị trường lao động gặp nhau cần dỡ bỏ đi những rào cản còn tồn tại hiện nay. Các chính sách như về an sinh xã hội cần linh hoạt, đảm bảo và hỗ trợ cho lao động phải di chuyển tự do (loại bỏ các rào cản về thể chế, hộ khẩu, sự liên thông các dịch vụ xã hội cơ bản như bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp…).

Còn GS.TS. Nguyễn Thị Tuệ Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) lại lưu ý đến vai trò của nhà nước tác động rất lớn đến NSLĐ. Trong đó thể chế là yếu tố quyết định. “Thể chế được thể hiện ở rất nhiều góc độ, trong đó hai yếu tố ảnh hưởng xuyên suốt đối với NSLĐ, chất lượng nguồn nhân lực và công nghệ là cạnh tranh và sở hữu trí tuệ. Chừng nào chúng ta chưa làm tốt được các vấn đề này thì sẽ không phát triển được nguồn nhân lực chất lượng tốt và không có được đổi mới sáng tạo”, TS. Tuệ Anh nhấn mạnh.

Các chuyên gia cũng cho rằng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không phải là câu chuyện chỉ làm trong ngày một, ngày hai mà cần có một chiến lược lâu dài và được thực hiện bền bỉ, liên tục. Trước hết cần nắm bắt kịp thời và dự báo sát đúng nhất về các yêu cầu của thị trường lao động trong ngắn hạn cũng như trong trung, dài hạn gắn với xu hướng và đòi hỏi của CMCN 4.0 cũng như các hiệp định song phương và đa phương liên quan đến kinh tế nói chung, lao động nói riêng. Từ đó có những điều chỉnh hoặc xây dựng các chương trình và kế hoạch nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng NSLĐ.

Một lưu ý là cơ cấu dân số vàng của Việt Nam đang qua đi rất nhanh, hàm nghĩa số lượng người trong độ tuổi lao động sẽ ngày càng giảm xuống. Tuy nhiên chất lượng nguồn nhân lực lại là yếu tố tồn tại lâu dài và ở rất nhiều góc độ có thể nói là vô hạn. Khi kiến thức, kỹ năng và thái độ giúp năng suất của mỗi người lao động được nâng lên bằng 5, bằng 10 lần hiện nay, cùng với đó là việc tận dụng tốt sự phát triển của công nghệ, nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn có thể kỳ vọng về một bến bờ tươi sáng hơn, đứng ở những nấc phát triển cao hơn.

Đỗ Lê

Tin liên quan

Tin khác

Chứng khoán tuần qua: Hụt hơi ngắn hạn, ngóng

Chứng khoán tuần qua: Hụt hơi ngắn hạn, ngóng 'trợ lực' quý III

Trái với tâm lý kỳ vọng khi nâng hạng, diễn biến thị trường chứng khoán tuần qua không mấy khả quan khi VN-Index chịu áp lực bán mạnh, để mất mốc 1.800 điểm. Cùng nhìn lại và chờ đợi động lực mới.
Phát huy vai trò SCIC trong dẫn dắt và khơi thông nguồn lực phát triển

Phát huy vai trò SCIC trong dẫn dắt và khơi thông nguồn lực phát triển

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nêu rõ, SCIC cần phát huy vai trò là kênh dẫn vốn nhà nước hiệu quả, góp phần khơi thông nguồn lực, kích hoạt đầu tư xã hội, cùng cả nước hiện thực hóa tiêu tăng trưởng cao, bền vững mà Đảng, Nhà nước đã đề ra.
Bãi đỗ xe Hà Nội trước bài toán tích hợp trạm sạc

Bãi đỗ xe Hà Nội trước bài toán tích hợp trạm sạc

Hà Nội cần thêm chỗ đỗ xe, đồng thời phải chuẩn bị hạ tầng cho phương tiện điện. Nhưng một bãi đỗ tích hợp trạm sạc không thể chỉ chọn theo quỹ đất: năng lực cấp điện, an toàn, chi phí và thủ tục đầu tư đều phải được tính từ đầu.
Đại

Đại 'di cư' cổ phiếu: Đón dòng tiền lớn, qua màng lọc khắt khe

Lộ trình chuyển giao hơn 300 mã cổ phiếu từ Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) sang Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HoSE) đang bước vào giai đoạn nước rút. Sự kiện này không chỉ mở ra không gian thanh khoản mới mà còn đặt ra bài toán trọng tâm về việc đáp ứng các chuẩn mực và điều kiện niêm yết khắt khe hơn.
Hạ tầng logistics: Cần chuyển từ đầu tư riêng lẻ sang kết nối theo dòng hàng

Hạ tầng logistics: Cần chuyển từ đầu tư riêng lẻ sang kết nối theo dòng hàng

Hạ tầng logistics Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể, song điểm nghẽn lớn vẫn nằm ở khả năng kết nối và tổ chức khai thác.
Triển vọng kinh tế Việt Nam:  Động lực nào cho chặng cuối năm?

Triển vọng kinh tế Việt Nam: Động lực nào cho chặng cuối năm?

Sau những kết quả tăng trưởng tích cực nửa đầu năm, động lực nào sẽ tiếp tục dẫn dắt nền kinh tế và dư địa chính sách còn lại bao nhiêu trong những tháng cuối năm và năm tới? Theo các chuyên gia ADB, triển vọng đã cải thiện rõ rệt, song bài toán cân bằng giữa tăng trưởng, lạm phát và ổn định vĩ mô cũng ngày càng hiện hữu.
Phố Wall hồi phục, cổ phiếu công nghệ dẫn sóng

Phố Wall hồi phục, cổ phiếu công nghệ dẫn sóng

Phố Wall khép lại phiên 25/9 trong sắc xanh khi nhóm cổ phiếu công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) hồi phục, trong khi giá dầu hạ nhiệt giúp giảm bớt áp lực từ lợi suất trái phiếu và lạm phát.
Tạo lợi thế riêng cho Trung tâm tài chính quốc tế

Tạo lợi thế riêng cho Trung tâm tài chính quốc tế

TP. Đà Nẵng xác định phát triển những lĩnh vực và sản phẩm tài chính có khả năng tạo lợi thế khác biệt. Trong đó, VIFC-DN định hướng tập trung vào quản lý quỹ và quản lý tài sản; tài chính xanh và thị trường carbon; sàn giao dịch hàng hóa; công nghệ tài chính cùng các nền tảng, sản phẩm tài mới…
Nâng hạng thị trường vốn: Thêm hướng đi cho cấu trúc vốn của doanh nghiệp bất động sản

Nâng hạng thị trường vốn: Thêm hướng đi cho cấu trúc vốn của doanh nghiệp bất động sản

Việc Việt Nam nâng hạng thị trường mở cơ hội tiếp cận vốn quốc tế cho bất động sản, song dòng tiền chứng khoán chưa chắc chảy vào dự án.
Nghị định hướng dẫn Luật Phát triển đô thị: Bài toán hài hòa giữa khung pháp lý thống nhất và đặc thù địa phương

Nghị định hướng dẫn Luật Phát triển đô thị: Bài toán hài hòa giữa khung pháp lý thống nhất và đặc thù địa phương

Việc xây dựng Nghị định hướng dẫn Luật Phát triển đô thị được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý đồng bộ để triển khai Luật Phát triển đô thị, nhất là đối với các mô hình phát triển mới như khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp, khu phi thuế quan và khu đô thị lấn biển. Qua đó, góp phần mở rộng không gian phát triển, thu hút nguồn lực đầu tư, thúc đẩy kết nối hạ tầng, logistics và thương mại, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với yêu cầu về môi trường, quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.