09:15 | 17/07/2017

Doanh nghiệp dệt may tăng đầu tư công nghệ

Với lợi thế là ngành hàng xuất khẩu lớn, dệt may Việt Nam luôn thu hút nhiều nhà cung cấp máy móc trang thiết bị hiện đại đến từ các quốc gia có nền công nghiệp phát triển như các nước châu Âu, Nhật Bản...

Công nghệ là yếu tố then chốt
Doanh nghiệp dệt may ngoại vẫn chọn Việt Nam

Ông Lê Tiến Trường, Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) cho biết, dệt may là ngành xuất khẩu chủ lực của cả nước, với kim ngạch xuất khẩu năm 2016 đạt 28,3 tỷ USD và tỷ trọng nội địa hóa đạt trên 50%. Trong 6 tháng 2017, tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may đạt 14,58 tỷ USD, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm 2016.

Nhu cầu trang thiết bị hiện đại ngành dệt may ngày càng tăng

Tuy là một trong 5 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới, nhưng ngành này luôn phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nước sản xuất, xuất khẩu dệt may, và đối mặt với yêu cầu của thị trường nhập khẩu ngày càng cao về chất lượng, giá thành, thời gian giao hàng…

Việc duy trì lợi thế cạnh tranh của dệt may Việt Nam ngày càng khó khăn đã buộc DN trong ngành chọn các giải pháp bảo vệ lợi thế cạnh tranh là tăng đầu tư năng suất, chất lượng, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường.

Theo Hiệp hội Dệt May Việt Nam, trong 5 năm trở lại đây, làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành dệt may Việt Nam liên tục gia tăng. Bởi, các nhà đầu tư (nhiều nhất là từ Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc…) kỳ vọng được hưởng lợi từ những hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới.

Điều này có mặt tích cực là sẽ giúp ngành dệt may nội địa nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nguồn lực mới cho ngành với trang thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, lao động có kỹ năng từ các quốc gia phát triển.

Ngược lại, sức ép cạnh tranh từ khối này cũng rất lớn, bởi DN FDI hiện chiếm 25% tổng số DN dệt may tại Việt Nam, và chiếm đến 70% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may. Lợi thế của DN FDI là có kinh nghiệm và mô hình phát triển lâu đời; đầu tư một cách bài bản, quy mô lớn, máy móc thiết bị hiện đại, dây chuyền khép kín từ khâu nguyên liệu sợi, dệt, nhuộm, cắt may và hoàn tất.

Đồng thời họ cũng có thị trường tiêu thụ lâu năm là những nhà bán lẻ nổi tiếng, có thương hiệu ảnh hưởng trên toàn cầu. Điều này cho thấy, ngành dệt may Việt đang đứng trước thách thức phải đổi mới, tăng đầu tư vào công nghệ mới, công nghiệp phụ trợ, nguyên phụ liệu, đặc biệt là trang thiết bị thế hệ mới.

Ở đơn vị đầu ngành như Vinatex thì yêu cầu đổi mới công nghệ để phát triển sản xuất càng quyết liệt hơn. Theo ông Cao Hữu Hiếu, Trưởng ban Đầu tư của Vinatex, để các DN dệt thuộc tập đoàn có thể cạnh tranh với DN FDI, đặc biệt là DN FDI lớn từ Trung Quốc, có trình độ công nghệ, kỹ thuật cao, có kinh nghiệm và đầu ra lớn, Vinatex đã liên tục đầu tư công nghệ mới nhằm tăng dần tỷ lệ nội địa hoá và có thêm nguồn nguyên phụ liệu.

Trong năm 2016, Vinatex đã triển khai thực hiện 41 dự án đầu tư, gồm 9 dự án sợi, 9 dự án dệt nhuộm, 17 dự án may, 6 dự án nâng cấp, sửa chữa, thay thế máy móc thiết bị, với tổng mức đầu tư là 5.523,7 tỷ đồng. Trước đây, do hạn chế nguồn vốn, cũng như không thu hút được nhiều nhà đầu tư để xây dựng các nhà máy dệt, nhuộm, hoàn tất.... nên trong chuỗi giá trị, các DN dệt may Việt Nam chỉ phát huy được sức mạnh trong công đoạn đầu là sợi và công đoạn cuối cùng là may.

Vì vậy, thời gian tới Vinatex sẽ tập trung đầu tư (hay kêu gọi đối tác FDI cùng đầu tư) vào các dự án dệt, nhuộm, hoàn tất và nguyên phụ liệu, để hình thành chuỗi cung ứng hoàn chỉnh, tạo giá trị gia tăng và lợi thế cạnh tranh, giảm tỷ trọng nhập khẩu nguyên phụ liệu, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam cho rằng, với lợi thế là ngành hàng xuất khẩu lớn, dệt may Việt Nam luôn thu hút nhiều nhà cung cấp máy móc trang thiết bị hiện đại đến từ các quốc gia có nền công nghiệp phát triển như các nước châu Âu, Nhật Bản.

Cụ thể, từ đầu năm 2017 đến nay đã có đến năm đoàn DN chuyên về máy móc công nghệ ngành dệt may đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư. Thực tế cho thấy, nếu tăng đầu tư, sử dụng thành công các trang thiết bị tiên tiến, DN Việt Nam có thể giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng như nâng cao năng suất (trung bình năng suất lao động sẽ tăng từ 40% – 60%), chất lượng sản phẩm có thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường, và đặc biệt là bảo vệ được môi trường sống, bởi công nghệ xanh đang được hướng đến tại đông đảo các DN quốc tế. Và để cạnh tranh hiệu quả với các quốc gia khác như Myanma, Philippines hay Thái Lan thì năng suất lao động cần phải được cải thiện nhiều.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,10
5,10
5,30
5,70
5,90
6,40
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,50
5,70
6,80
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.700 22.770 26.998 27.320 30.490 30.979 200,27 204,10
BIDV 22.695 22.765 27,093 27.335 30.755 31.029 202,12 203,88
VietinBank 22.690 22.770 27.093 27.359 30.514 30.942 200.89 203.53
Agribank 22.680 22.760 27.050 27.356 30.399 30.836 201,45 204,67
Eximbank 22.680 22.770 26.957 27.308 30.429 30.825 201,44 204,06
ACB 22.700 22.770 26.892 27.297 30.431 30.913 200,95 204,65
Sacombank 22.695 22.776 27.023 27.383 30.522 30.882 201,49 204,55
Techcombank 22.680 22.780 26.742 27.379 30.134 30,926 200,21 204,91
LienVietPostBank 22.670 22.760 26.740 27.297 30.708 31.019 19885 203,20
DongA Bank 22.700 22.770 26.950 27.360 30.420 30.880 201,00 204,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.500
36.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.500
36.700
Vàng SJC 5c
36.500
36.720
Vàng nhẫn 9999
35.720
36.120
Vàng nữ trang 9999
35.420
36.120