10:00 | 26/06/2019

Doanh nghiệp gỗ Việt phải chủ động hơn nữa

Là nước xuất khẩu gỗ lớn thứ 5 thế giới, các  doanh nghiệp ngành gỗ Việt hướng đến làm chủ sản phẩm xuất khẩu của mình

Mua sắm công đang tồn tại số lượng gỗ có rủi ro cao
Hàng nội thất ngoại chi phối thị trường nội

Năm 2019 được xem là điểm mốc quan trọng của ngành gỗ Việt Nam, bởi hàng loạt những biến động mới từ các quy định kỹ thuật khắt khe ở thị trường xuất khẩu cũng như sự chuyển mình của doanh nghiệp trong nước, chủ động sản xuất hàng xuất khẩu.

Doanh nghiệp ngành gỗ chủ động hàng xuất khẩu

Ông Trần Anh Vũ, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương cho biết, Việt Nam hiện là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới, thứ 2 châu Á về xuất khẩu gỗ và lâm sản. Thị trường này của Việt Nam đã mở rộng đến hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ, sản phẩm chủ yếu là đồ gỗ nội thất, ngoại thất chất lượng cao. Giá trị xuất khẩu gỗ của Việt Nam tăng theo từng năm.

Trong năm tháng đầu năm 2019 kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 4 tỷ USD, tăng 18,3% so với cùng kỳ 2018. Trong đó, đồ nội thất bằng gỗ là mặt hàng xuất khẩu chính, chiếm 63,3% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam với giá trị xuất khẩu đạt gần 2 tỷ USD, tăng hơn 21% trong 4 tháng đầu năm 2019. Các mặt hàng khác thuộc nhóm đồ gỗ nội thất như nội thất văn phòng, phòng khách, phòng ăn… cũng tăng kim ngạch xuất khẩu 16% so với cùng kỳ năm 2019. Còn lại mặt hàng dăm gỗ, gỗ, ván và ván sàn... cũng là nhóm hàng xuất khẩu chính, với mức tăng trên 19,5% so với 5 tháng đầu năm 2018.

Tại hầu hết các quốc gia nhập khẩu chủ lực đều có sự gia tăng kim ngạch. Đó là các thị trường Áo tăng đến 622,6%, Bồ Đào Nha tăng 159,3%, các Tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất (U.A.E) tăng 93,5%, Nga tăng 90,2%... Với mức tăng đều ở tất cả nhóm ngành hàng gỗ như hiện tại, thì mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 11 tỷ USD/2019, 13 tỷ USD/2020 và đến năm 2025 đạt 20 tỷ USD là không quá khó.

Đặc biệt, trong điều kiện doanh nghiệp Việt đang vươn mình, đầu tư mạnh vào trang thiết bị hiện đại, đẩy mạnh khâu thiết kế mẫu mã để tăng giá trị hàng xuất khẩu, giảm tình trạng sản xuất gia công, làm thuê cho các thương hiệu lớn nước ngoài.

Ông Nguyễn Tuấn Việt, Giám đốc Công ty VietGo (doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử vào lĩnh vực tư vấn xúc tiến xuất khẩu) nhận định, năm 2019 này, các doanh nghiệp ngành gỗ và chế biến gỗ có nhiều cơ hội nhưng cũng không ít áp lực, đặc biệt, là khi Hiệp định Đối tác tự nguyện về Thực thi luật lâm nghiệp, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và châu Âu (EU) chính thức có hiệu lực từ ngày 1/6/2019. Theo đó, doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam phải đảm bảo gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu có nguồn gốc hợp pháp (kể cả việc khai thác gỗ từ rừng trồng và nhập khẩu gỗ được khai thác và mua bán hợp pháp, phù hợp với pháp luật của quốc gia khai thác). Đáp ứng được các điều kiện này, doanh nghiệp Việt có thể tự tin tham gia vào chuỗi cung ứng thế giới.

Lại nữa, ở nhóm sản phẩm gỗ cao cấp, thì các doanh nghiệp Việt chưa thể so sánh được với các “đồng nghiệp” đến từ Đức, Ý, Ba Lan, Thụy Điển. Hiện sản phẩm của các nước này đều được tự động hóa trong sản xuất gần như 100%. Như thế, muốn cải thiện tình hình thì doanh nghiệp Việt phải tăng đầu tư vào máy móc, thiết bị hiện đại, cũng như chủ động đầu tư từ khâu thiết kế, quản lý đến sản xuất, tiếp thị sản phẩm…

Ở chiều ngược lại, nếu doanh nghiệp Việt “buông xuôi”, thì các doanh nghiệp nước ngoài có vốn, có công nghệ hiện đại sẽ đổ xô đầu tư vào Việt Nam. Khi đó, doanh nghiệp nội sẽ trở thành người làm thuê cho nhà đầu tư ngoại ngay trên sân nhà.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.260 25.903 26.761 28.708 29.168 207,73 215,91
BIDV 23.140 23.260 25.886 26.631 28.688 29.173 212,15 217,57
VietinBank 23.130 23.260 25.887 26.682 28.637 29.277 212,36 218,86
Agribank 23.145 23.250 25.890 26.286 28.710 29.185 212,32 216,19
Eximbank 23.140 23.250 25.916 26.274 28.806 29.204 213,25 216,20
ACB 23.130 23.250 25.917 26.274 28.875 29.199 213,18 216,12
Sacombank 23.100 23.250 25.912 26.317 28.826 29.228 212,26 216,81
Techcombank 23.120 23.260 25.656 26.516 28.457 29.326 211,63 218,93
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.849 26.328 28.830 29.260 212,79 216,73
DongA Bank 23.160 23.240 25.940 26.260 28.810 29.180 209,90 215,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.750
40.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.750
40.050
Vàng SJC 5c
39.750
40.070
Vàng nhẫn 9999
39.650
40.150
Vàng nữ trang 9999
39.350
40.150