08:40 | 17/12/2018

ECB chấm dứt kích thích, nhưng chưa thắt chặt

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cuối tuần trước đã xác nhận sẽ dừng chương trình mua trái phiếu trị giá 2,6 nghìn tỷ euro (3 nghìn tỷ USD) vào cuối tháng này, đặt dấu chấm hết cho một chính sách kích thích tiền tệ cho dù nền kinh tế khu vực đồng euro có vẻ dễ bị tổn thương trở lại.

ECB kiên định với việc thu hồi kích thích
Chủ tịch ECB củng cố kỳ vọng tăng lãi suất vào cuối năm 2019

Kết thúc nới lỏng định lượng…

Tại cuộc họp chính sách tháng 12 diễn ra tuần trước, các nhà hoạch định chính sách do Chủ tịch Mario Draghi dẫn đầu đã quyết định giữ nguyên các mức lãi suất chủ chốt như hiện tại. Cụ thể, lãi suất tiền gửi của các ngân hàng tại ECB là -0,4%; lãi suất tái cấp vốn là 0% và lãi suất cho vay cận biên là 0,25%. Về các biện pháp chính sách tiền tệ bất thường, ECB xác nhận sẽ dừng chương trình mua tài sản, hay còn được gọi là nới lỏng định lượng (QE), trong tháng 12 này sau gần 4 năm triển khai.

Quyết định này được đưa ra sau một loạt quyết định chính sách của các ngân hàng trung ương ở châu Âu. Theo đó, các ngân hàng trung ương Thụy Sĩ và Na Uy vẫn giữ nguyên chính sách, mặc dù Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ đã cắt giảm triển vọng lạm phát. Thổ Nhĩ Kỳ và Ukraine cũng giữ ổn định lãi suất. Trong khi Fed được kỳ vọng sẽ tăng lãi suất lần thứ tư trong năm nay tại cuộc họp chính sách diễn ra vào tuần tới.

Chương trình nới lỏng định lượng bắt đầu được triển khai ở khu vực đồng euro vào tháng 3/2015 với kỳ vọng sẽ ngăn chặn nguy cơ giảm phát trong khu vực bằng cách đẩy lãi suất thị trường xuống và khuyến khích hoạt động cho vay. Nó được đưa ra chỉ vài tháng sau khi Fed dừng chương trình mua tài sản của mình và vấp phải khá nhiều ý kiến phản đối trong Hội đồng Thống đốc, đặc biệt là các nhà hoạch định chính sách của Đức.

Theo thiết kế ban đầu, chương trình sẽ được triển khai trong vòng chưa đầy 2 năm, nhưng sau nhiều lần mở rộng cùng với các biện pháp tiền tệ khác như các khoản vay ngân hàng dài hạn đã khiến bảng cân đối tài sản của ECB tăng lên tới 4,7 nghìn tỷ euro, tương đương với hơn 40% sản lượng kinh tế, cào gấp đôi vo với mức 20% tại Fed.

Mặc dù hiện vẫn còn nhiều tranh cãi về tính hiệu quả của chương trình mua tài sản này, song theo ước tính mới nhất của ECB, chương trình đã cộng thêm 1,9 điểm phần trăm cho cả tăng trưởng và lạm phát của khu vực từ năm 2016 đến 2020. Trên thực tế, tăng trưởng của khu vực đồng euro cũng vượt xa Hoa Kỳ trong năm 2016 và 2017.

…nhưng chưa thắt chặt

Mặc dù chấm dứt nới lỏng định lượng, song ECB cũng phát đi tín hiệu chưa thắt chặt chính sách khi tuyên bố sẽ tiếp tục tái đầu tư toàn bộ số tiền thu được từ trái phiếu đáo hạn trong một khoảng thời gian dài ngay cả khi lãi suất được tăng lên, để duy trì các điều kiện thanh khoản thuận lợi và mức độ dễ dàng của tiền tệ.

ECB cũng tuyên bố sẽ giữ nguyên các mức lãi suất ở mức thấp kỷ lục “ít nhất là qua mùa hè” năm 2019 và có thể lâu hơn nếu cần để đảm bảo sự gia tăng liên tục của lạm phát đến dưới, nhưng gần với, 2% trong trung hạn.

Sở dĩ như vậy một phần cũng bởi ECB đã có những bài học cay đắng trong quá khứ. Lần tăng lãi suất gần đây nhất của cơ quan này là vào năm 2011, một bước đi sai lầm của Chủ tịch ECB thời điểm đó là ông Jean-Claude Trichet - người tiền nhiệm của Draghi - ngay trước khi khu vực đồng tiền chung vào suy thoái kép.

Trong khi hiện ECB cũng chưa thể lạc quan với triển vọng kinh tế của khu vực đồng tiền chung.

Phát biểu tại buổi họp báo sau đó, Chủ tịch ECB cũng đã cho thấy triển vọng không mấy lạc quan khi ông đã hạ dự báo tăng trưởng năm 2018 của khu vực đồng tiền chung xuống còn 1,9% thay vì mức 2,0% như trong dự báo đưa ra hồi tháng 9. Triển vọng tăng trưởng năm 2019 cũng được cắt giảm xuống còn 1,7% so với dự báo trước đó là 1,8%.

“Những rủi ro xung quanh triển vọng tăng trưởng của khu vực đồng euro vẫn có thể được đánh giá là cân bằng. Tuy nhiên, cán cân rủi ro đang chuyển sang suy giảm do sự không chắc chắn liên quan đến các yếu tố địa chính trị, mối đe dọa của chủ nghĩa bảo hộ, sự bất ổn trong các thị trường mới nổi và sự biến động của thị trường tài chính”, Draghi nói.

Đối với lạm phát, Draghi cho biết, một sự điều chỉnh tăng nhẹ trong dự báo của nhân viên của ông cho năm 2018 lên 1,8%, đã được bù đắp bằng một sụt giảm tương ứng vào năm tới. Mặc dù cho rằng lạm phát tổng thể có khả năng giảm trong những tháng tới, song Draghi lại tỏ ra lạc quan hơn về lạm phát cơ bản. “Mặc dù lạm phát cơ bản nói chung vẫn yếu, nhưng áp lực chi phí trong nội khối đang tiếp tục tăng cường và mở rộng trong bối cảnh công suất sử dụng ở mức cao và thị trường lao động được thắt chặt, điều đó đang thúc đẩy tăng trưởng tiền lương”.

Những phát biểu không mấy lạc quan của Chủ tịch ECB đã khiến thị trường đẩy lui dự báo về thời điểm mà ECB sẽ tiến hành tăng lãi suất tới quý 1 năm 2020 thay vì dự đoán động thái này sẽ diễn ra vào tháng 9 năm 2019.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.370
41.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.370
41.590
Vàng SJC 5c
41.370
41.610
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.760
Vàng nữ trang 9999
40.790
41.590