09:08 | 23/12/2015

Giảm lãi suất USD ít tác động đến thị trường chứng khoán

Đó là quan điểm của ông Trần Minh Hoàng (Công ty TNHH Chứng khoán NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam) khi trao đổi với phóng viên Thời báo Ngân hàng.

Ông Trần Minh Hoàng

Tuy nhiên, ông cũng cho biết, chỉ khi nào rủi ro tỷ giá lắng dịu thì khả năng phục hồi thị trường mới rõ nét hơn.

Sau khi Fed tăng lãi suất USD, NHNN Việt Nam lập tức giảm lãi suất tiền gửi đối với đồng tiền này xuống 0%. Theo ông, những điều chỉnh đó tác động thế nào đến TTCK Việt Nam?

Về lý thuyết, khi giảm lãi suất tiền gửi USD sẽ phần nào giảm bớt áp lực lên tỷ giá. Nhưng đây không phải là yếu tố chính vì ẩn đằng sau rủi ro tỷ giá hiện nay không phải đến từ nội tại trong nước mà đến từ áp lực phía bên ngoài.

Ví dụ đồng nhân dân tệ mất giá và khả năng mạnh lên của đồng USD. Thực tế, thời gian qua đồng nhân dân tệ đã mất giá và đồng USD đã mạnh lên. Nhưng trong suốt thời gian đó, đồng Việt Nam chưa thay đổi gì nhiều và như vậy nó chưa phản ánh vào diễn biến và áp lực vẫn còn. Chỉ khi nào hiện thực hoá áp lực đó thì rủi ro mới giảm bớt...

Khi áp lực bên ngoài mạnh lên, thông thường các cơ quan chức năng sẽ có động thái mạnh mẽ là bán ra ngoại tệ hoặc điều chỉnh tỷ giá để ổn định lại. Còn việc giảm lãi suất như thế này thì hiệu ứng không đáng kể.

Bởi vì, mặc dù giảm lãi suất tiền gửi với USD sẽ tiếp tục kéo giãn chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền và phần nào đó nó hỗ trợ cho việc gửi tiền đồng. Nhưng ở đây chỉ là mang nghĩa hỗ trợ chứ không có nghĩa là NĐT sẽ chuyển từ tiền USD sang tiền đồng. Với nhiều người, 25 điểm cơ bản không phải lý do thuyết phục để họ chuyển từ USD sang VND.

Từ nhận định như vậy, tôi cho rằng việc giảm lãi suất tiền gửi USD không mang lại nhiều tác động cho thị trường cổ phiếu.

Vậy, các dòng tiền trên thị trường có thay đổi nhiều không, thưa ông?

Khi điều chỉnh lãi suất 25 điểm cơ bản như vậy có thể giúp cơ quan thực thi chính sách không phải phá giá tiền đồng. Khi tiền đồng chưa giảm giá, rủi ro chưa hiện thực hoá, thì khả năng dòng tiền quay trở lại thị trường một cách mạnh mẽ là rất khó. Mà thường phải sau khi giảm giá xong, việc quy đổi sang tiền đồng sẽ có lợi hơn, lúc đó dòng tiền mới được kích hoạt, chứ hiện nay là rất khó kích hoạt dòng tiền vào thị trường, nhất là dòng tiền ngoại. Và khi dòng tiền ngoại thận trọng thì các dòng khác cũng như vậy. Đối với dòng kiều hối có thể vẫn về nước, nhưng không có nghĩa là họ đổi sang tiền đồng và đổ vào chứng khoán...

Trong bối cảnh như vậy, ông có khuyến nghị gì với NĐT?

Thời điểm hiện tại, NĐT vẫn nên thận trọng quan sát, những phiên tăng điểm thường để cơ cấu danh mục nhiều hơn mua đuổi. Hiện tại, chưa có điềm sáng để quan tâm, xu hướng chung vẫn chưa có nhiều tin tốt, thanh khoản thị trường chưa cao. Xu hướng thị trường chính là tích luỹ và đi ngang. Khi cơ hội chưa rõ ràng, NĐT cần quan tâm đến tín hiệu dòng tiền. Ví dụ, khi thanh khoản tốt, điểm số không tăng nhiều, tích luỹ tốt thì nên cân nhắc.

NĐT cũng không nên quan tâm nhiều quá diễn biến thị trường vì chủ yếu hiện nay thị trường phản ánh thông tin. NĐT nên quan tâm đến các thông tin tiếp theo về tín hiệu kinh tế trong nước và thế giới, nhất là diễn biến đồng nhân dân tệ, đồng USD, các vấn đề về tăng tưởng kinh tế và về vấn đề lãi suất… Bởi lẽ, độ mở của nền kinh tế Việt Nam khá lớn nên bị ảnh hưởng lớn vào diễn biến kinh tế thế giới. Nếu kinh tế thế giới tốt, kinh tế Việt Nam cũng tốt lên nhanh chóng.

Chẳng hạn như chuyện giá dầu cũng có thể cân nhắc, vì hiện nay đang thấp, nếu có phục hồi trong ngắn hạn 2-3 tuần thì nhóm dầu khí trên TTCK Việt Nam sẽ phục hồi. Điều này sẽ giúp phục hồi thị trường trong ngắn hạn.

Nhìn chung NĐT nên rất thận trọng và hạn chế mua mới vào lúc này vì không phải là thời điểm tốt.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.160 23.260 26.138 26.872 30.409 30.896 204,97 209,98
BIDV 23.160 23.260 26.119 26.493 30.430 30.918 205,56 209,15
VietinBank 23.153 23.263 26.109 26.834 30.380 31.020 205,43 211,93
Agribank 23.155 23.250 26.085 26.460 30.440 30.907 205,96 209,71
Eximbank 23.150 23.250 26.128 26.477 30.517 30.926 206,45 209,22
ACB 23.170 23.250 26.140 26.477 30.620 30.938 206,39 209,05
Sacombank 23.108 23.270 26.136 26.546 30.569 30.983 205,42 209,99
Techcombank 23.130 23.260 25.876 26.612 30.182 31.057 204,87 210,40
LienVietPostBank 23.150 23.250 26.085 26.543 30.581 31.001 206,10 209,81
DongA Bank 23.170 23.240 26.150 26.470 30.540 30.920 202,90 209,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.500
36.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.500
36.650
Vàng SJC 5c
36.500
36.670
Vàng nhẫn 9999
36.490
36.890
Vàng nữ trang 9999
36.050
36.650