16:13 | 16/05/2017

NHTW Nhật chưa thể thu hồi kích thích tiền tệ trong giai đoạn này

Thống đốc NHTW Nhật (BOJ) Haruhiko Kuroda cho biết, ông “khá chắc chắn” ngân hàng trung ương có thể thoát ra một cách êm thấm khỏi gói kích thích tiền tệ khủng khi đến thời điểm thích hợp. Nhưng chưa phải là giai đoạn này.

Thống đốc Kuroda: NHTW Nhật phải đối mặt với "thách thức" lạm phát thấp
NHTW Nhật hạ dự báo lạm phát và duy trì chính sách siêu nới lỏng
Quan chức BOJ: Đồng yên biến động mạnh là mối lo đối với kinh tế Nhật
Thống đốc BOJ Haruhiko Kuroda

Nhưng ông cũng nói rằng BOJ “luôn luôn” có dư địa mở rộng các gói kích thích tiền tệ để đạt được mục tiêu lạm phát 2%, cho thấy tiền lương và giá cả phản ứng rất chậm trước những cải thiện trong nền kinh tế.

“Có thể sẽ có một số vấn đề thách thức, nhưng tôi khá chắc chắn rằng BOJ có đủ công cụ” để kiểm soát việc thoát khỏi chương trình kích thích, Kuroda nói tại một cuộc hội thảo được tổ chức bởi tờ Wall Street Journal ở Tokyo vào hôm thứ Ba.

Liên quan đến thời điểm BOJ quyết định rút lại gói kích thích, Kuroda cho biết có thể tìm hiểu cách thức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) bình thường hoá chính sách tiền tệ cực kỳ lỏng lẻo của mình.

“Nhưng nước Mỹ là nước Mỹ, Nhật Bản là Nhật Bản. Tại thời điểm này, chúng tôi chưa thể rút lại (chương trình kích thích)”, Kuroda nói thêm, nhấn mạnh rằng BOJ vẫn chưa tới gần thời điểm thoát khỏi chương trình kích cầu khổng lồ của nó khi lạm phát vẫn còn cách xa mục tiêu 2% của nó.

Theo khuôn khổ chính sách mới được gọi là kiểm soát đường cong lợi suất (YCC) được đưa ra năm ngoái, BOJ kiểm soát lãi suất dài hạn khoảng 0% thông qua việc mua sắm tài sản.

Với việc lạm phát vẫn mắc kẹt dai dẳng quanh 0%, các quan chức BOJ đã nhấn mạnh rằng bất kỳ các biện pháp hỗ trợ tiền tệ khủng vẫn cần thiết phải được duy trì thêm một thời gian.

Tuy nhiên, nhiều người tham gia thị trường kỳ vọng kế hoạch tiếp theo của BOJ sẽ là thoát khỏi chứ không phải là mở rộng gói kích thích tiền tệ khi nền kinh tế có dấu hiệu mạnh hơn nhờ sự phục hồi của nhu cầu toàn cầu.

Một số nhà phân tích cũng tỏ ra lo lắng về tính bền vững của chương trình kích cầu của BOJ khi mà ngân hàng trung ương đã nắm giữ hơn 40% thị trường trái phiếu Chính phủ Nhật Bản.

Tuy nhiên ông Kuroda đã bác bỏ những lo ngại đó, và nói rằng BOJ vẫn còn 60% thị phần còn lại để mua. “Tôi thực sự không nghĩ rằng có bất kỳ hạn chế nào đối với việc kiểm soát đường cong lợi suất của chúng tôi”, ông nói.

Ông cũng bỏ qua những lo ngại rằng Fed sẽ tăng lãi suất có thể làm gián đoạn thị trường toàn cầu và “làm nguội” tăng trưởng. “Tôi không quan tâm nhiều đến quá trình bình thường hoá Fed đang thực hiện ... vì nó phản ánh sức mạnh của nền kinh tế Mỹ”, Kuroda nói.

Ông nói thêm rằng chính sách của Fed sẽ không có tác động trực tiếp đến chính sách tiền tệ của BOJ, mà BOJ chủ yếu tập trung vào các nhiệm vụ trong nước để đạt được lạm phát 2%. “Lạm phát của chúng tôi vẫn còn thấp, do đó, chính sách tiền tệ của chúng tôi là nhằm đạt được mục tiêu lạm phát 2% trong thời gian sớm nhất”, Kuroda cho biết.

Những bình luận của ông Kuroda cho thấy, BOJ không vội vã chuyển chính sách tiền tệ theo một hướng nào đó, đặc biệt là việc cắt giảm kích thích kinh tế trong bối cảnh sự phục hồi của kinh tế Nhật vẫn còn mong manh.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,40
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
4,90
6,00
6,10
6,70
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.745 22.815 27.990 28.353 31.967 32.479 209,41 216,91
BIDV 22.745 22.815 27.991 28.313 31.997 32.478 209,76 212,90
VietinBank 22.738 22.818 27.940 28.318 32.957 32.517 209,62 213,02
Agribank 22.730 22.805 27.998 28.328 31.348 32.789 210,47 213,77
Eximbank 22.730 22.820 27.973 28.337 32.087 32.504 210,47 213,21
ACB 22.750 22.820 27.982 28.332 32.196 32.518 210,47 213,11
Sacombank 22.741 22.833 28.035 28.389 32.197 32.552 210,46 213,53
Techcombank 22.725 22.825 27.638 28.366 31.948 32.810 208,73 214,25
LienVietPostBank 22.730 22.830 27.931 28.398 32.144 32.570 210,17 213,83
DongA Bank 22.750 22.820 27.990 28.310 32.090 32.470 209,00 212,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.850
37.050
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.850
37.030
Vàng SJC 5c
36.850
37.050
Vàng nhẫn 9999
36.920
37.320
Vàng nữ trang 9999
36.480
37.080