08:58 | 01/02/2019

PMI chỉ đạt 51,9 điểm trong tháng đầu năm 2019

Sản lượng, số lượng đơn đặt hàng mới và việc làm đều tăng yếu hơn. Chi phí đầu vào chỉ tăng nhẹ và giá cả đầu ra giảm. Sản lượng dự kiến tiếp tục tăng trưởng trong năm 2019.

TIN LIÊN QUAN
PMI tháng 12/2018 giảm xuống 53,8 điểm
PMI tháng 11 tiếp tục tăng cao, đạt 56,5 điểm
PMI cải thiện mạnh trong tháng 10, lên 53,9 điểm

Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) toàn phần lĩnh vực sản xuất Việt Nam của Nikkei - một chỉ số tổng hợp về kết quả hoạt động của ngành sản xuất - chỉ đạt 51,9 điểm trong tháng 1, cho thấy các điều kiện kinh doanh cải thiện nhẹ.

Kết quả chỉ số này đã giảm từ mức 53,8 của tháng 12 xuống mức thấp nhất kể từ tháng 9 năm ngoái, thấp hơn tháng cùng kỳ năm ngoái 1,5 điểm, nhưng đến nay tăng trưởng (trên 50 điểm) đã được ghi nhận trong 38 tháng liên tiếp.

Phù hợp với chỉ số chính, cả sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới đều tăng nhẹ hơn trong tháng 1. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, tăng trưởng vẫn còn mạnh khi các báo cáo cho thấy nhu cầu khách hàng cải thiện. Sản lượng đến nay đã tăng trong suốt 14 tháng qua. Cùng với mức tăng của tổng số lượng đơn đặt hàng mới, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới cũng tiếp tục tăng, nhưng với tốc độ yếu hơn so với tháng 12.

Áp lực lạm phát tiếp tục mờ nhạt trong tháng 1. Giá cả đầu vào đã tăng sau khi giảm lần đầu trong gần ba năm trong tháng 12, nhưng tốc độ tăng chỉ là nhẹ và kém hơn hẳn mức trung bình của lịch sử chỉ số. Các thành viên nhóm khảo sát báo cáo giá cả thị trường giảm, mặc dù tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu đã làm giá cả tăng trong một số trường hợp. Với giá cả đầu vào chỉ tăng nhẹ, các công ty đã tiếp tục giảm giá cả đầu ra vào đầu năm 2019. Giá bán hàng đã giảm suốt bốn trong năm tháng qua.

Các nhà sản xuất tiếp tục tuyển thêm nhân viên trước tình trạng tăng số lượng đơn đặt hàng mới, từ đó kéo dài thời kỳ tăng việc làm hiện nay thành 34 tháng. Năng lực bổ sung này đã giúp các công ty giải quyết lượng công việc chưa thực hiện khi tốc độ tăng số lượng đơn đặt hàng mới đã chậm lại. Lượng công việc tồn đọng đã giảm lần đầu tiên trong ba tháng.

Hàng tồn kho tiếp tục tăng trong tháng 1, với cả tồn kho hàng hóa trước và sau sản xuất đều tăng. Mức tăng lượng hàng mua đã được hỗ trợ bởi mức tăng mạnh của hoạt động mua hàng hóa đầu vào, mặc dù trong cả hai trường hợp mức tăng đã chậm lại thành mức chậm nhất kể từ tháng 9 năm ngoái.

Thời gian mà các nhà cung cấp dùng để chuyển hàng đã kéo dài thêm lần thứ hai liên tiếp khi nhu cầu hàng hóa đầu vào tiếp tục tăng. Tuy nhiên, thời gian giao hàng chỉ tăng nhẹ, như đã xảy ra trong tháng 12. Các công ty tiếp tục tin tưởng mạnh mẽ sản lượng sẽ tăng trong năm tới, với hơn một nửa số người trả lời khảo sát tỏ thái độ lạc quan. Mức độ lạc quan hầu như tương đương với mức trung bình của lịch sử chỉ số. Các thành viên nhóm khảo sát cho biết nhu cầu khách hàng dự kiến sẽ cải thiện trong 12 tháng tới sẽ giúp họ thực hiện các kế hoạch kinh doanh của công ty.

Bình luận về dữ liệu khảo sát PMI ngành sản xuất Việt Nam, Andrew Harker, Phó Giám đốc tại IHS Markit, công ty thu thập kết quả khảo sát, nói: “Trong khi vẫn báo hiệu tăng trưởng trong lĩnh vực sản xuất Việt Nam, dữ liệu PMI mới nhất cho thấy nền kinh tế không thể hoàn toàn miễn nhiễm khỏi sự yếu kém ở những nơi khác trong khu vực và những vấn đề của thương mại toàn cầu. Do đó, trong khi những vẫn đề này vẫn còn tiếp diễn, lĩnh vực sản xuất có thể vẫn ở giai đoạn tăng trưởng nhẹ hơn”.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.504 26.349 27.824 28.270 214,53 224,49
BIDV 23.145 23.265 25.505 26.232 27.823 28.303 215,02 220,49
VietinBank 23.135 23.265 25.492 26.287 27.766 28.406 214,71 220,71
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.508 25.861 27.918 28.304 215,89 218,87
ACB 23.135 23.255 25.521 25.873 27.998 28.312 215,99 218,96
Sacombank 23.103 23.263 25.518 25.977 27.950 28.352 215,12 219,68
Techcombank 23.135 23.275 25.282 26.280 27.611 28.505 214,47 221,74
LienVietPostBank 23.140 23.260 25.469 26.943 27.981 28.405 216,19 220,21
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.100
41.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.100
41.450
Vàng SJC 5c
41.100
41.470
Vàng nhẫn 9999
41.100
41.600
Vàng nữ trang 9999
40.650
41.450