14:00 | 11/10/2019

Tăng trưởng của Việt Nam nổi bật trong khu vực

Tổng thể nhìn lại, mức tăng trưởng cao trong quý III đã khiến Việt Nam một lần nữa là nền kinh tế tăng trưởng nổi bật trong khu vực...

VEPR dự báo tăng trưởng GDP đạt 7,05% trong năm 2019
Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam: Nền kinh tế đang có đà tăng trưởng tích cực

Tăng trưởng cao hơn

“Trong bối cảnh môi trường kinh tế toàn cầu không chắc chắn đã trở thành một hiện tượng bình thường mới trong năm 2019, khó có thể tưởng tượng Việt Nam - nền kinh tế dựa nhiều vào thương mại với bên ngoài – vẫn có thể có được mức tăng trưởng hơn 7% như đạt được trong năm ngoái. Mức tăng trưởng GDP 7,31% trong quý III vừa qua đánh dấu sự tăng trưởng nhanh nhất trong 6 quý trở lại đây”, Báo cáo đánh giá triển vọng KTVM Việt Nam của Khối nghiên cứu, Ngân hàng HSBC đưa ra mới đây cho biết.

Tuy “khó tưởng tượng” nhưng theo các chuyên gia của HSBC, cũng không hẳn là điều gì đó quá ngạc nhiên khi ngành sản xuất tiếp tục nằm ở trung tâm của câu chuyện với mức tăng trưởng hai con số ổn định 11,7% trong quý III. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IP) khi tăng tới 13,3% trong quý III, phần lớn sự tăng trưởng nhanh này được thúc đẩy bởi lĩnh vực điện tử vẫn đang bùng nổ, nhờ vào dòng vốn FDI vẫn liên tục chảy vào của các công ty công nghệ.

Bên cạnh đó, xuất khẩu của Việt Nam cũng ghi nhận những dữ liệu lạc quan trong quý III với mức tăng hơn 10%, nhờ sự tăng trưởng mạnh mẽ của các sản phẩm điện tử. Điều tương tự cũng diễn ra với nhập khẩu khi tăng 10% trong quý III và hơn một nửa trong số đó được đóng góp bởi các linh phụ kiện điện tử và máy tính. “Vì nhiều mặt hàng điện tử nhập khẩu được dùng để lắp ráp trong các sản phẩm cuối cùng phục vụ cho xuất khẩu, nên điều này cũng hàm nghĩa là tăng trưởng của xuất khẩu sẽ ổn định trong những tháng tới”, báo cáo của HSBC nhận định.

Thế nhưng không phải sản xuất mà dịch vụ mới là ngành đóng góp lớn nhất giúp cho Việt Nam có được tăng trưởng cao. Với mức tăng trưởng 7,1% trong quý III (tăng với tốc độ cao nhất từ đầu năm nay), ngành dịch vụ tiếp tục cho thấy sự tăng trưởng ổn định, và đóng góp tới 40% vào tăng trưởng GDP danh nghĩa. Điều này có được một phần là nhờ vào tiêu dùng nội địa mạnh mẽ hơn. Bên cạnh đó, du lịch cũng tiếp tục là một trụ cột khác hỗ trợ cho ngành dịch vụ tăng trưởng cao. Khi nhìn vào các phân khúc nhỏ trong ngành dịch vụ, có thể thấy các ngành liên quan đến du lịch như bán lẻ, lưu trú và vận tải đã có được sự tăng trưởng ổn định liên tục…

Tổng thể nhìn lại, mức tăng trưởng cao trong quý III đã khiến Việt Nam một lần nữa là nền kinh tế tăng trưởng nổi bật trong khu vực. Với mức tăng trưởng này, Khối nghiên cứu của HSBC đã điều chỉnh dự báo tăng trưởng cả năm nay của Việt Nam lên mức cao hơn, lên 6,9% từ mức 6,7% như dự báo trước đây.

Không chỉ HSBC tỏ ra lạc quan với triển vọng của kinh tế Việt Nam, mà Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) cũng một lần nữa điều chỉnh dự báo tăng trưởng. Trong Báo cáo kinh tế vĩ mô quý III vừa được công bố hôm 10/10, VEPR dự báo tăng trưởng quý IV có thể đạt 7,26% và cả năm đạt mức 7,05% (trong báo cáo KTVM quý II, dự báo tăng trưởng năm 2019 cũng đã được VEPR điều chỉnh tăng thêm 0,09% so với báo cáo quý I).

Đặc biệt theo các chuyên gia của VEPR, chính sách tiền tệ, tỷ giá được điều hành hết sức linh hoạt, chủ động đã duy trì ổn định mặt bằng lãi suất, tỷ giá trong nước trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu biến động mạnh, qua đó hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô.

Chủ động ứng phó với bất định bên ngoài

Cùng với tăng trưởng tích cực, lạm phát trong quý III tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp, phù hợp với kỳ vọng của thị trường và nhiều dự báo cho rằng diễn biến này nhiều khả năng sẽ tiếp tục trong quý IV. Ngay cả khi độ trễ về thời gian truyền tải tác động của các yếu tố bên ngoài như giá dầu toàn cầu đối với giá xăng dầu trong nước (có thể khiến chi phí vận tải tăng trở lại sau đợt tăng giá xăng dầu vừa qua) nhưng điều này sẽ không gây ra rủi ro lạm phát bật tăng nghiêm trọng trong thời gian tới. “Chúng tôi cho rằng áp lực lạm phát sẽ vẫn thấp trong suốt quý IV”, báo cáo của HSBC đánh giá.

Trong khi đó theo TS. Phạm Thế Anh - Kinh tế trưởng VEPR, mặc dù lạm phát trong 9 tháng đầu năm được kiểm soát ở mức thấp nhưng vẫn có những yếu tố khiến chỉ số này tăng cao hơn trong thời gian tới. Nguyên nhân chính từ việc tăng đều theo lộ trình của nhóm hàng giáo dục; giá thực phẩm, lương thực có thể chịu áp lực tăng do dịch tả lợn châu Phi, và bất định của giá nhiên liệu.

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu toàn cầu, đặc biệt là các thị trường lớn như Trung Quốc, Mỹ, EU và theo hầu hết các dự báo thì tăng trưởng của các nền kinh tế lớn này đều sẽ giảm tốc hơn nữa - thì điều này đặt ra những rủi ro bất lợi cho thương mại và tăng trưởng của Việt Nam. Trên thực tế, chỉ số PMI các tháng gần đây đã cho thấy một số dấu hiệu chậm lại trong ngành sản xuất. Không chỉ sản lượng bắt đầu suy giảm mà nhiều chỉ số phụ khác, như đơn đặt hàng mới và đơn hàng xuất khẩu mới... cũng tăng trưởng với tốc độ chậm hơn, báo hiệu nhu cầu suy yếu.

Báo cáo của VERP nhận định, kinh tế Việt Nam trong cuối năm 2019 trở nên bất định hơn do có thể chịu ảnh hưởng bởi các cú sốc từ thị trường thế giới. Do đó, việc điều hành một cách chủ động linh hoạt, khách quan và tôn trọng quy luật thị trường nhằm hấp thụ các cú sốc từ bên ngoài là rất cần thiết.

Theo báo cáo Cập nhật Kinh tế Đông Á - Thái Bình Dương công bố ngày 10/10/2019 của WB, dù nhận định triển vọng vẫn tích cực trong trung hạn nhưng căng thẳng thương mại leo thang và suy giảm toàn cầu mạnh hơn so với dự kiến có thể gây áp lực cho đà tăng trưởng của Việt Nam. WB dự báo tăng trưởng GDP sẽ giảm đà từ 7,1% năm 2018 xuống mức trên dưới 6,6% năm 2019 (do tăng trưởng xuất khẩu chậm lại và tăng trưởng sản xuất nông nghiệp yếu hơn) và ở mức 6,5% trong các năm 2010 và 2021.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.200
41.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.200
41.470
Vàng SJC 5c
41.200
41.490
Vàng nhẫn 9999
41.180
41.630
Vàng nữ trang 9999
40.670
41.470