12:12 | 07/08/2019

Thị trường nhà ở cao cấp trên thế giới có dấu hiệu chững lại

Tăng trưởng giá trên các thị trường nhà ở cao cấp tại các thành phố hàng đầu thế giới tiếp tục chậm lại trong 6 tháng đầu năm 2019, chỉ tăng khoảng 0,4%, đưa mức tăng trưởng theo năm lên 0,7%. Mức tăng trưởng này thấp hơn đáng kể so với mức tăng 5,1% theo năm tính đến tháng 6/2018.

Nghiên cứu toàn cầu Savills gần đây mới công bố Chỉ số nhà ở cao cấp tại các thành phố thế giới của Savills (Savills World Cities Prime Residential Index) 6 tháng đầu năm 2019. Theo đó, thị trường nhà ở cao cấp trên nhiều thành phố trên thế giới đang có dấu hiệu chững lại do tác động của chính sách của chính phủ, chi phí vay vốn, nguồn cung tăng và sự bất ổn của kinh tế toàn cầu.

Chỉ số nhà ở cao cấp tại các thành phố thế giới của Savills (Savills World Cities Prime Residential Index) – giá trên mỗi mét vuông và biến động giá theo nội tế - các thành phố được xếp hạng theo mức tăng trưởng nửa năm. (Nguồn: Bộ phận Nghiên cứu Savills)

“Có một số lý do khiến cho thị trường nhà ở tại các thành phố hàng đầu thế giới đang chững lại. Chính sách của chính phủ, chi phí vay vốn, nguồn cung tăng và sự bất ổn của kinh tế toàn cầu, tất cả những yếu tố này đều có vai trò đóng góp”, bà Sophie Chick - Trưởng bộ phận Nghiên cứu toàn cầu của Savills nhận định.

Số liệu mới nhất của Chỉ số nhà ở cao cấp tại các thành phố thế giới của Savills (Savills World City Prime Index) cho thấy Berlin và Paris ghi nhận mức tăng trưởng nổi trội nhất của phân khúc BĐS nhà ở cao cấp, 4% trong 6 tháng đầu năm nay và 8% theo năm. Cả hai thị trường đều có nguồn cung thấp cùng với nhu cầu tăng từ người mua trong nước và quốc tế.

Sáu tháng đầu năm 2019 đã đánh dấu một bước ngoặt của các thành phố Trung Quốc khi giá nhà ở đã tăng lên sau một thời kỳ giảm kể từ tháng 6/2018. Điều này là kết quả của việc nới lỏng nhẹ chính sách hạn chế dự án nhà ở tại Trung Quốc trong bối cảnh nền kinh tế có phần chững lại. Hồng Kông vẫn là thị trường có giá nhà ở đắt nhất thế giới ở mức khoảng 50,700 USD/ m2, ghi nhận mức tăng 1.3%.

Xu hướng tương tự xảy ra tại Mát- cơ- va, giá nhà tại đây đã tăng khoảng 1,2% sau nhiều năm giảm khi đồng tiền Nga quay trở lại thành phố thủ đô do đồng tiền này bị giám sát chặt chẽ ở thị trường nước ngoài.

Những thành phố khác tại châu Á như Kuala Lumpur và Bangkok, với giá nhà cao cấp trung bình lần lượt là 2,800 USD/m2 và 9,500 USD/m2, đã ghi nhận mức tăng trưởng gần 2,5% trong nửa đầu năm nay.

Ngươc lại, nhiều thành phố tại Mỹ đã cho thấy giá nhà ở giảm trong 6 tháng đầu năm 2019 do những thay đổi về thuế gần đây ảnh hưởng đến nguồn cầu, và lượng hàng tồn kho lớn, đối với trường hợp của New York và Miami. 

Tại Sydney và Cape Town, giá nhà ở sau 5 năm tăng mạnh đang bắt đầu giảm do khả năng chi trả bên cạnh các lý do khác làm giảm nhiệt thị trường. Giá nhà ở cao cấp tại Dubai đã giảm khoảng 20% trong 5 năm qua và hiện vẫn đang giảm do nguồn cung tại các dự án mới còn nhiều và sự bất ổn của nền kinh tế toàn cầu.

Bà Sophie Chick cho hay: “Trong ngắn hạn, chúng tôi kỳ vọng các thành phố tại châu Âu tiếp tục ghi nhận mức tăng giá tốt nhờ được hưởng lợi từ Brexit và giá nhà ở tương đối thấp hơn so với mức trung bình toàn cầu. Về lâu dài, việc gia tăng sự giàu có của nền kinh tế nói chung sẽ là mấu chốt cho sự tăng trưởng của thị trường nhà ở cao cấp tại các thành phố cùng với các yếu tố khác như sự ổn định kinh tế chính trị và cơ cấu nhân khẩu học thuận lợi”.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700