16:01 | 14/05/2018

TP. HCM: Chú trọng phát triển CNHT

TP.HCM đã có nhiều giải pháp khuyến khích đối với các DN công nghiệp hỗ trợ cả trong nước lẫn FDI.

Gặp khó vì không đảm bảo năng lực
Phát triển công nghiệp hỗ trợ Hà Nội: Cần một điểm tựa

Ưu tiên cơ sở hạ tầng

Cuối tháng 4 vừa qua, UBND TP.HCM giao Ban Quản lý Khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN – KCX, HEPZA) TP.HCM hoàn chỉnh hồ sơ trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung khu 270,9ha vào danh mục quy hoạch các KCN trên địa bàn thành phố, dành 300ha đất cho các doanh nghiệp khởi nghiệp và công nghiệp hỗ trợ (CNHT).

Kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực CNHT, góp phần tạo ra động lực và khuyến khích DN 

Theo Trung tâm Phát triển CNHT (Sở Công thương TP.HCM), hiện nay HEPZA đang triển khai thành lập mới phân khu CNHT trong các KCX – KCN nhằm đáp ứng nhu cầu thuê mặt bằng sản xuất của DN CNHT. Cụ thể tại KCN Hiệp Phước (giai đoạn 2) đã triển  khai phân kỳ 1 khoảng 80ha, lấp đầy 100% với 56 DN thuê lại đất.

KCN Lê Minh Xuân 3 đang tập trung xây dựng hạ tầng tiếp nhận các DN ngành dệt nhuộm ở quận 12 di dời vào đây. Riêng KCN Cơ khí ô tô đã triển khai giai đoạn 1 xây dựng và hoàn thiện hạ tầng 24ha, đủ điều kiện tiếp nhận các DN. Phần còn lại đang triển khai bồi thường giải phóng mặt bằng nên sẽ đưa vào hoạt động trong thời gian tới.

HEPZA hiện đang đốc thúc các đơn vị triển khai và đưa vào hoạt động đối với chương trình xây dựng nhà xưởng cao tầng. Đến nay, KCX Tân Thuận đã vận hành nhà xưởng A để tiếp nhận nhà đầu tư thuộc ngành sản xuất linh kiện điện ô tô đăng ký thuê. Còn nhà xưởng B cũng đã tiếp nhận được 8 nhà đầu tư. Ngoài ra, hàng loạt KCX - KCN khác cũng đang gấp rút hoàn tất thủ tục quy định cần thiết để sớm đẩy nhanh hoạt động cho thuê nhà xưởng cao tầng.

Đơn cử, KCX Linh Trung 1 đang thực hiện các thủ tục về đầu tư xây dựng khối nhà xưởng, dự kiến khởi công trong tháng 5/2018. KCN Đông Nam, Lê Minh Xuân 3 cũng đang ghi nhận thêm những tín hiệu tích cực từ thị trường để bắt tay triển khai xây dựng nhà xưởng cao tầng, đáp ứng yêu cầu của DN CNHT.

Ông Nguyễn Phương Đông, Phó giám đốc Sở Công thương TP.HCM cho biết, chỉ riêng năm 2017, sở đã thực hiện chính sách kích cầu DN và đã tiếp nhận 12 dự án về xây dựng nhà xưởng, đầu tư trang thiết bị hiện đại của các DN sản xuất CNHT. Sở đã hỗ trợ cho các DN này vay vốn ưu đãi với số tiền gần 800 tỷ đồng.

Bình chọn sản phẩm, khuyến khích DN

Ngoài những nỗ lực tạo điều kiện về  cơ sở hạ tầng, năm 2018, Sở Công thương TP.HCM tham mưu UBND TP. HCM công nhận, trao chứng nhận cho 50 sản phẩm CN-CNHT tiêu biểu thuộc 6 nhóm ngành: cơ khí - điện, cao su - nhựa, điện tử - công nghệ thông tin, chế biến tinh lương thực - thực phẩm, dệt may, da giày…

Trước đó vào năm 2016, lần đầu tiên cuộc bình chọn này được tổ chức và trao giải cho 38 sản phẩm và nhóm sản phẩm của 30 DN thuộc 4 ngành công nghiệp trọng yếu và 2 ngành công nghiệp truyền thống của TP. HCM. Nhiều sản phẩm được bình chọn là các sản phẩm đã quen thuộc với người tiêu dùng như dòng xe buýt xanh (sử dụng nhiên liệu sạch), xe và thiết bị chuyên dùng PCCC và cứu hộ của Tổng Công ty Cơ khí giao thông vận tải Sài Gòn (SAMCO), thang máy của Công ty Thiên Nam và một số sản phẩm của các công ty dệt may…

Theo ông Nguyễn Phương Đông, qua chương trình bình chọn, các cơ quan quản lý chuyên ngành có thêm kinh nghiệm thực tế cho việc xây dựng các cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ sự phát triển ngành CN-CNHT nói chung và các sản phẩm tiêu biểu nói riêng. Đây cũng là cơ sở cho các hoạt động xúc tiến thương mại, kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực CNHT, góp phần tạo ra động lực và khuyến khích DN tích cực đổi mới, ứng dụng những ý tưởng sáng tạo trong hoạt động sản xuất và kinh doanh.

Dưới góc nhìn của các DN, chương trình này đã trở thành cầu nối hiệu quả, là sự ghi nhận, tạo liên kết hoạt động và hỗ trợ các DN cùng phát triển, góp phần nâng cao năng lực sản xuất - kinh doanh và khả năng cạnh tranh trong xu thế phát triển hội nhập kinh tế quốc tế.

“Sở Công thương tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết để bình chọn và tôn vinh những sản phẩm - nhóm sản phẩm CN-CNHT của thành phố có khả năng đóng góp vào sự phát triển CN cũng như sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố. Việc bình chọn sẽ giúp các DN, nhất là trong lĩnh vực CNHT tiếp tục hiện đại hoá trang thiết bị, cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao năng suất và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng”, ông Đông cho biết.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.245 26.240 26.976 29.547 30.021 209,79 220,20
BIDV 23.155 23.245 26.226 26.599 29.558 30.026 210,47 214,10
VietinBank 23.143 23.243 26.180 26.970 29.496 30.056 210,46 214,21
Agribank 23.150 23.240 26.216 26.592 29.566 30.023 210,45 214,10
Eximbank 23.140 23.240 26.249 26.601 29.597 29.994 212,09 214,93
ACB 23.160 23.240 26.258 26.596 29.640 29.947 212,25 214,99
Sacombank 23.157 23.259 26.293 26.657 29.630 29.984 212,32 215,42
Techcombank 23.135 23.245 26.005 26.723 29.212 30.042 210,90 216,50
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.195 26.658 29.607 29.023 211,65 215,51
DongA Bank 23.160 23.230 26.270 26.570 29.560 29.930 211,00 215,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.670
Vàng SJC 5c
36.490
36.690
Vàng nhẫn 9999
36.370
36.770
Vàng nữ trang 9999
35.920
36.620