19:23 | 08/11/2017

Trung Quốc: Dự trữ ngoại hối tăng ít hơn dự báo trong tháng 10

Dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc tiếp tục tăng trong tháng 10, ghi nhận tháng tăng thứ 9 liên tiếp cho dù mức độ thấp hơn so với kỳ vọng của thị trường, xuất phát từ các quy định chặt chẽ hơn và đồng nhân dân tệ mạnh lên tiếp tục ngăn cản dòng vốn chảy ra.

Thống đốc NHTW Trung Quốc cảnh báo rủi ro tài chính “đột ngột và nguy hiểm”
Nỗ lực giảm đòn bẩy tài chính tại Trung Quốc đang phát huy hiệu quả
Thống đốc NHTW Trung Quốc kêu gọi mở cửa khu vực tài chính
Đồng nhân dân tệ đã tăng 4,9% so với USD kể từ đầu năm

Số liệu của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) vừa công bố mới đây cho biết, trong tháng 10 dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc tăng thêm 700 triệu USD lên 3,109 nghìn tỷ USD.

Mức tăng này là khá nhẹ, thấp hơn nhiều con số ước tính của các nhà kinh tế tham gia cuộc khảo sát của Reuters là dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc sẽ tăng 9,5 tỷ USD trong tháng trước lên 3,118 nghìn tỷ USD. Nó cũng thấp hơn nhiều mức tăng 17 tỷ USD của tháng 9.

Tuy nhiên, chừng đó cũng đã đủ ghi nhận đây là lần đầu tiên kể từ tháng 6/2014, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc tăng trong 9 tháng liên tiếp, qua đó đưa kho dự trữ lớn nhất thế giới của Trung Quốc lên mức cao nhất kể từ tháng 10 năm ngoái.

Dòng chảy vốn ra khỏi Trung Quốc đã được xem như là một rủi ro lớn đối với nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới vào đầu năm. Nhưng nhờ các biện pháp kiểm soát vốn chặt chẽ hơn, cộng thêm việc đồng USD suy yếu đã giúp cho đồng nhân dân tệ phục hồi mạnh trở lại, củng cố niềm tin vào nền kinh tế. Cụ thể, đồng nhân dân tệ đã tăng khoảng 4,9% so với đôla Mỹ trong năm nay.

Trung Quốc đã “đốt” gần 320 tỷ USD dự trữ vào năm ngoái để chặn lại đà rơi của đồng nhân dân tệ, song đồng tiền này vẫn giảm khoảng 6,5% so với đồng USD, mức giảm hàng năm lớn nhất kể từ năm 1994.

Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã thắt chặt các quy định chuyển vốn ra nước ngoài kể từ cuối năm 2016 khi họ tìm cách hỗ trợ đồng nhân dân tệ và chặn lại đà giảm dự trữ ngoại hối.

Về dự trữ vàng, PBoC cho biết, giá trị dự trữ vàng của Trung Quốc đã giảm xuống còn 75,238 tỷ USD vào cuối tháng 10 từ mức 76,005 tỷ USD vào cuối tháng 9.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,20
4,20
4,70
5,20
5,40
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
5,20
5,80
6,00
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,10
5,10
5,20
5,90
5,90
6,70
6,80
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.675 22.745 26.544 26.862 29.563 30.037 198,12 201,91
BIDV 22.680 22.750 26.577 29.881 29.610 30.048 198,98 201,96
VietinBank 22.665 22.745 26.541 26.910 29.546 30.085 198,57 202,07
Agribank 22.675 22.745 26.576 26.909 29.564 30.004 197,96 201,11
Eximbank 22.660 22.750 26.548 26.894 29.685 30.072 199,49 202,09
ACB 22.680 22.750 26.581 26.915 29.778 30.076 199,70 202,20
Sacombank 22.671 22.763 26.606 26.967 29.767 30.124 199,57 202,61
Techcombank 22.660 22.755 26.314 27.028 29.350 30.162 197,85 203,66
LienVietPostBank 22.660 22.750 26.553 26.907 29.776 30.074 199,71 202,18
DongA Bank 22.680 22.750 26.570 26.880 29.710 29.060 199,30 202,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.360
36.580
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.360
36.560
Vàng SJC 5c
36.360
36.580
Vàng nhẫn 9999
35.350
35.750
Vàng nữ trang 9999
35.050
35.750